Chương 1: Giới thiệu • Chương 2: Cơ sở lý thuyết và phương pháp luận • Chương 3: Xác định đối tượng • Chương 4: Phân tích đối tượng nghiên cứu • Chương 5: Phân tích nguyên nhân và thực hiện giải pháp • Chương 6: Kết luận và kiến nghị • Chương 7: Tài liệu tham khảo. 3 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN 2. Khái niệm sản xuất tinh gọn (Lean manufacturing) Sản xuất tinh gọn (Lean production/ Lean Manufacturing) thường được xem là phương pháp quản trị định hướng vào việc nhắm giảm thiểu lãng phí để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của toàn bộ quá trình sản xuất. Thuật ngữ LEAN PRODUCTION bắt đầu phổ biến ở Việt Nam và đầu những năm 2000 và thường được gọi là sản xuất tinh gọn.
Ngày nay, khái niêm “Tinh gọn” hay “Lean ” không chỉ được áp dụng trong sản xuất mà còn được áp dụng trong lĩnh vực dịch vụ (Lean service) và được khái quát hóa lên thành mô hình quản trị tổ chức tinh gọn (Lean management) hay thậm chí là tư duy tinh gọn (Lean thinking). [1] Tuy lợi ích mang lại từ Lean là rất lớn, tuy nhiên có nhiều quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu. Lean Manufacturing có khả năng sản xuất với mức độ tối thiểu những hoạt động không tạo ra giá trị cho khách hàng. Lean không chỉ là khái niệm hay công cụ, mà còn được thực hiện bởi sự quản lý và kiểm soát, do vậy để thực hiện Lean thành công thì con người quan trọng nhất.
Áp dụng Lean phải có sự cam kết của chính sách, tư tưởng của tố chức với tư duy, triết lý của Lean. Như vậy, Lean Manufacturing hay Lean Production là một hệ thống các công cụ nhằm loại bỏ những hoạt động không tạo ra giá trị trong quá trình sản xuất một cách liên tục. Lean manufacturing tạo ra một hệ thống sản xuất hiệu quả cao, đáp ứng nhu cầu khách hàng chỉ với những nguồn lực thật sự cần thiết. Từ đó Lean manufacturing mang lại lợi ích lớn cho doanh nghiệp và khách hàng.
Mục tiêu của sản xuất tinh gọn Một cách hiểu khác về Lean Manufacturing đó là việc nhắm đến mục tiêu: với cùng một mức sản lượng đầu ra nhưng có lượng đầu vào thấp hơn – ít thời gian hơn, ít mặt bằng hơn, ít nhân công hơn, ít máy móc hơn, ít vật liệu hơn và ít chi phí hơn. Đầy đủ hơn, ta có các mục tiêu của Lean như sau: - Giảm thời gian chuẩn bị sản xuất. Cải thiện tối đa chu kỳ sản xuất - Giảm thời gian quy trình và chu kỳ sản xuất bằng cách giảm tối đa thời gian chờ đợi giữa các công đoạn, cũng như thời gian chuẩn bị cho quy trình và thời gian chuyển đổi mẫu mã hay quy cách sản phẩm; 4 - Cải thiện cách bố trí nhà máy dựa trên việc sắp xếp lưu chuyển nguyên liệu hiệu quả; - Giảm những nguồn lực cần cho việc kiểm tra chất lượng; - Quan hệ gần gũi hơn với số lượng nhà cung cấp ít hơn, chất lượng tốt hơn và đáng tin hơn, những nhà cung cấp có thể cung cấp những lô nhỏ vật liệu và phụ tùng trực tiếp cho các quá trình sản xuất, vừa đủ, vừa đúng cho sản xuất; giảm tối đa tồn kho. - Sử dụng việc trao đổi thông tin điện tử với những nhà cung cấp và khách hàng; - Hợp lý hóa tổng thể sản phẩm để loại bỏ những mẫu sản phẩm và biến thể ít mang lại giá trị tăng thêm cho khách hàng; - Thiết kế những sản phẩm với ít thành phần hơn và phổ biến hơn; - Thiết kế những sản phẩm và dịch vụ mà yêu cầu tùy biến của khách hàng có thể thực hiện được dựa trên những bộ phận và môđun được chuẩn hóa, và càng mới càng tốt.
Các loại Lãng phí trong Sản xuất tinh gọn [2] Lãng phí là một khái niệm của tinh gọn, là những hoạt động tiêu tốn nguồn lực nhưng không tạo giá trị. Lãng phí có mặt khắp nơi trong hệ thống sản xuất. Mọi tổ chức cần cải thiện và gia tăng giá trị bằng phương pháp phòng ngừa và giảm thiểu lãng phí. Các chi phí không chất lượng khiến cho doanh nghiệp bị giảm lợi nhuận, đẩy giá thành sản phẩm lên cao và gây thất thoát cho doanh nghiệp.
Những chi phí không chất lượng còn được gọi là các lãng phí trong sản xuất. 7 loại lãng phí (7 Wastes) là phương pháp tập trung vào những hoạt động phát sinh các lãng phí về nguồn lực trong tổ chức, bao gồm: 1- Lãng phí do sản xuất thừa: Sản xuất thừa sẽ dẫn đến rất nhiều chi phí bổ sung cho doanh nghiệp. Có thể kể ra một số như: chi phí lưu kho, chi phí bảo quản, chi phí nhân lực, chi phí hành chính, chi phí thiết bị, chi phí tài chính v. 2- Lãng phí thời gian do chờ đợi hay trì hoãn: Khi một công nhân hay một thiết bị không thể tiến hành công việc của mình do phải chờ một hoạt động khác kết thúc hoặc phải chờ nguyên vật liệu chuyển đến.
3- Lãng phí về vận chuyển hay di chuyển: Đây có thể là nguyên nhân của việc sắp xếp nơi làm việc không hợp lý dẫn đến những vận chuyển hoặc di chuyển không cần thiết gây ra lãng phí. 5 4- Lãng phí trong quá trình hoạt động/Gia công: Lãng phí gia công bao gồm các lãng phí gia công thừa và lãng phí gia công không thích hợp. Sử dụng máy móc có công suất thích hợp, có năng lực tạo ra sản phẩm có chất lượng phù hợp và sản xuất vừa đúng lúc. Quá trình sản xuất có năng lực cần có phương pháp sản xuất đúng, chuẩn hóa, công nhân được huấn luyện và hiểu rõ về công việc.
5- Lãng phí do tồn kho thành phẩm hoặc bán thành phẩm: Nếu một doanh nghiệp mà nhà kho luôn chứa đầy nguyên vật liệu, bán thành phẩm hay thành phẩm thì doanh nghiệp đó đang lãng phí một khoản tiền lớn. Lưu kho quá nhiều tức là doanh nghiệp đang bị chìm đọng vốn mà lẽ ra lượng vốn đó có thể được dùng cho những mục đích quan trọng khác. Mặt khác, lưu kho nhiều còn dẫn đến các chi phí khác như thuê mặt bằng nhà kho, chi phí bảo quản hoặc các chi phí do hỏng hóc… 6- Lãng phí do các thao tác cử động thừa: Khi một người công nhân lấy một chi tiết sản phẩm lên, đặt nó xuống hay tìm kiếm nó thì chỉ tạo ra các cử động. Các cử động này không làm gia tăng giá trị cho chính chi tiết sản phẩm đó.
7- Lãng phí do sản xuất lỗi / khuyết tật: Sản phẩm lỗi không chỉ dẫn đến các chi phí trực tiếp cho doanh nghiệp mà còn kéo theo cả các chi phí gián tiếp. Mặt bằng sản xuất tinh gọn [3] Bố trí mặt bằng là một quyết định mang tính chiến lược. Tư duy tinh gọn xem mặt bằng sản phẩm di chuyển là tinh gọn hơn mặt bằng sản phẩm cố định. Henry Ford là người đã phát minh ra chuyền máy ứng dụng trong công nghiệp sản xuất xe hơi, di chuyển từ mặt bằng vị trí cố định sang mặt bằng vị trí thay đổi.
Tư duy tinh gọn trong mặt bằng sản phẩm di chuyển thì mặt bằng theo sản phẩm là tinh gọn hơn mặt bằng theo chức năng. Mặt bằng sản phẩm di chuyển, ngoài 2 loại cơ bản nêu trên còn có mặt bằng theo cụm. Mặt bằng theo cụm sử dụng công nghệ nhóm, nhóm các sản phẩm có quy trình sản xuất tương tự để bố trí cụm máy riêng cho họ sản phẩm này. Mặt bằng theo cụm kết hợp ưu điểm linh hoạt theo sản phẩm của mặt bằng theo chức năng và tính hiệu quả theo đường đi của mặt bằng theo sản phẩm.
Mặt bằng tinh gọn là mặt bằng theo sản phẩm hay họ sản phẩm. Các đặc điểm của mặt bằng tinh gọn: - Tỷ lệ giữ chiều dài và chiều rộng cần hợp lý. Schonberger đề nghị tỷ lệ này là 60:40. 6 - Thường xuyên đánh giá của mặt bằng qua nguyên lý chuỗi giá trị.
Tái bố trí mặt bằng khi mặt bằng không tinh gọn. - Tránh bố trí mặt bằng quá lớn, không tập trung, có thể giảm phạm vi bằng cách bố trí mặt bằng lớn, không tập trung thành nhiều mặt bằng nhỏ, tập trung theo khách hàng, với đầy đủ các chức năng nhận đơn, họach định, kiểm sóat sản xuất, …. - Nhận nguyên liệu với cở lô nhỏ trực tiếp từ nhà cung cấp. - Hỗ trợ dòng chảy vật tư từ 1 đầu đến 1 đầu khác, không có vòng quay ngược, với nhiều điểm vào ra vật tư.
- Một vài họat động gia công cần hệ thống nâng chuyển vật tư trung tâm làm cột sống. Các cụm máy được bố trí 2 bên dọc theo cột sống nâng chuyển vật tư. Thường dùng cho các chuyền sản xuất cho nhiều sản phẩm, với các cụm máy thay đổi theo sản phẩm. - Mặt bằng tinh gọn bao gồm các vòng kéo cách ly bởi các kệ tồn kho.
- Tránh sử dụng các nhà kho lớn và tự động - Thiết lập các lộ trình nâng chuyển cố định với nhân viên nâng chuyển, hỗ trợ hệ thống kéo xác định nhịp sản xuất. - Tránh sử dụng các chuyền sản xuất với băng tải dài. Sử dụng các cụm máy nhỏ. - Bố trí theo không gian 3 chiều.
Không phụ thuộc vào việc sử dụng lại các máy móc cũ. - Đặt bộ phận thiết kế gần bộ phận sản xuất. Thiết kế cần có kinh nghiệm về sản xuất. Đặt bộ phận kiểm sóat ở trung tâm xưởng.
- Tăng cường truyền thông và trực quan qua bố trí mặt bằng mở. Dòng sản xuất Mặt bằng tinh gọn là mặt bằng theo sản phẩm hay họ sản phẩm, cần xác định họ sản phẩm nhằm chia mặt bằng thành các dòng sản xuất, từ đó xác định sản phẩm hay họ sản phẩm nào sẽ được sản xuất trên dòng sản xuất nào. Mục tiêu chiến lược của dòng sản xuất cần được xem xét khi thiết lập. Mục tiêu dòng sản xuất có thể là giảm chi phí, giảm thời gian, tăng tính linh họat hay hỗn hợp.
Việc xác định họ sản phẩm được thực hiện bởi biễu đồ Pareto theo sản lượng hay doanh số; hay phức tạp hơn là ma trận sản phẩm- quy trình. Phương pháp chọn lựa họ sản phẩm sẽ được trình bày ở phần sau. Sơ đồ chuỗi giá trị biễu thị bức tranh tổng thể của dòng sản xuất từ đó có thể phân chia thành các phân đoạn sản xúât. Sơ đồ chuỗi giá trị rất quan trọng khi hệ thống có nhiều sản phẩm chia sẽ nguồn lực sản xuất, cần kiểm tra năng lực của nguồn lực sản xuất và cần xem xét nguồn lực giành riêng cho một sản phẩm.