CHƯƠNG 1. Phát biểu vấn đề nghiên cứu Chuyển đổi số là một cụm từ vô cùng phổ biến với hầu hết tất cả mọi người trong những năm gần đây. Hiện nay, các công ty đều đã và đang tiến hành nhiều hoạt động liên quan đến chuyển đổi số, để thử nghiệm các công nghệ mới, từ đó tận dụng triệt để tiềm năng của những công nghệ này vào các hoạt động liên quan đến quy trình vận hành tại các tổ chức (Matt và cộng sự, 2015). Việc áp dụng các công nghệ mới giúp các tổ chức cải thiện về hiệu suất, từ đó giúp phát triển doanh thu và thúc đẩy giá trị thương hiệu, là tiền đề thúc đẩy và phát triển kinh tế số ở các quốc gia trên thế giới (Barret và cộng sự, 2015).
Trong bối cảnh của công cuộc chuyển đổi số nhiều công nghệ đi đầu có thể kể thể tên đến như: dữ liệu lớn (big data), IoT (Internet vạn vật), trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây (Cloud),. được ứng dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới. Trong bối cảnh đó, việc ứng dụng một công nghệ có thể giải quyết được những bài toán liên quan đến việc đảm bảo tính toàn vẹn và minh bạch của dữ liệu thì sự ra đời của công nghệ chuỗi khối đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình thực hiện CĐS tại các quốc gia trên thế giời nói chung và Việt Nam nói riêng (Kraus và cộng sự, 2021). Theo Swan (2015) nhờ khả năng ứng dụng cao, từ đơn giản đến những ứng dụng vô cùng phức tạp, nên chuỗi khối được áp dụng đa dạng ở nhiều lĩnh vực khác nhau như bảo hiểm (Brophy, 2020), quản lý chuỗi cung ứng (Wong và cộng sự, 2020), dược phẩm (Azaria và cộng sự, 2016),… Vì thế, từ khi được công bố, chuỗi khối như là một hiện tượng trong lĩnh vực công nghệ thông tin.
Theo Hiệp Hội Blockchain Việt Nam (2022) hầu hết các quốc gia và tổ chức trên thế giới đều vô cùng quan tâm đến việc áp dụng và phát triển công nghệ chuỗi khối tại quốc gia của họ. Hiện nay, các quốc gia đều đã có kế hoạch và chiến lược cụ thể cho việc phát triển chuỗi khối cho quốc gia đó như Anh, Ấn Độ. Tại Việt Nam, ứng dụng của chuỗi khối vẫn chưa phổ biến, hiện tại nhiều tổ chức do còn nhiều e ngại các vấn đề về cơ sở hạ tầng, thiếu kiến 1 thức công nghệ thông tin, ngoài ra còn chịu ảnh hưởng đến từ các vấn đề về hành lang pháp lý liên quan đến chuỗi khối (Hiệp Hội Blockchain Việt Nam, 2022). Vì vậy, nếu giải quyết được các vấn đề trên, các tổ chức có thể thực hiện áp dụng chuỗi khối tại Việt Nam một cách dễ dàng, mà không phải thông qua sự kiểm duyệt khắt khe từ các bên có thểm quyền thì đây chính là cơ hội để chuỗi khối có thể tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế quốc gia.
Dự báo năm 2025, chuỗi khối sẽ giải quyết được nhiều vấn đề kinh tế của thế giới và có thể chiếm 10% GDP thế giới (Hiệp Hội Blockchain Việt Nam, 2022). Các doanh nghiệp đã ứng dụng chuỗi khối không chỉ là các công ty khởi nghiệp mà còn là những doanh nghiệp truyền thông lâu đời như IBM, Microsoft hay Walmart (Hiệp Hội Blockchain Việt Nam, 2022). Trong nghiên cứu này, tác giả kế thừa từ kết quả của mô hình gốc “Lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ” (UTAUT) được phát triển bởi Venkatesh và cộng sự (2003), từ đó điều chỉnh và phát triển mô hình nghiên cứu mới phù hợp với bối cảnh của đề tài. Ngoài ra, tác giả cũng tham khảo và kế thừa các nghiên cứu liên quan khác về chủ đề chuỗi khối, để có nhiều góc nhìn hơn về thực tiễn như nghiên cứu khám phá các yếu tố quyết định việc áp dụng chuỗi khối trong ngành quản lý chuỗi cung ứng (Wong và cộng sự, 2020); nghiên cứu về việc chấp nhận chuỗi khối trong hoạt động vận hành và quản lý chuỗi cung ứng (Queiroz và cộng sự, 2021), nghiên cứu đo lường lợi ích của áp dụng chuỗi khối (Garg và cộng sự, 2021), nghiên cứu về tính ứng dụng của chuỗi khối (Hughes và cộng sự, 2019) và một số nghiên cứu khác được tác giả đề cập ở các phần sau của nghiên cứu.
Với sự phát triển của nghiên cứu khoa học, trong những năm gần đây nhiều công trình liên quan đến chuỗi khối được công bố trên thế giới. Tuy nhiên, các nghiên cứu về chuỗi khối liên quan đến nhận thức lợi ích trong việc sử dụng công nghệ này tại Việt Nam hiện còn rất sơ sài về mặt ý tưởng. Phần lớn các nghiên cứu chỉ giới thiệu cơ bản về chuỗi khối, mặt lợi ích và hạn chế khi áp dụng chuỗi khối hoặc là đánh giá một cách tổng quan về thực trạng của chuỗi khối tại Việt Nam. Bên cạnh đó, dữ liệu cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu chưa đáp ứng đủ cho việc nghiên cứu, đặc biệt 2 là các nghiên cứu về việc áp dụng chuỗi khối.
Điều này thể hiện rõ, dựa vào số lượng ít ỏi các bài báo và công trình liên quan đã được công bố. Nhận thức được mặt tốt và hạn chế của việc áp dụng công nghệ chuỗi khối, em đã quyết định chọn đề tài “Thành quả tổ chức trong việc áp dụng chuỗi khối: một nghiên cứu ở Thành phố Hồ Chí Minh”, nhằm đào sâu đến các yếu tố tác động đến việc áp dụng công nghệ chuỗi khối và thành quả mà các tổ chức tại Việt Nam đạt được trong suốt quá trình thực hiện áp dụng công nghệ này. Từ đó, đưa ra những đóng góp mang tính chất học thuật từ việc nghiên cứu thông qua các mô hình và góc nhìn thực tiễn của tác giả. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định các yếu tố tác động ảnh hưởng đến thành quả tổ chức trong việc áp dụng chuỗi khối.
- Đo lường mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến thành quả tổ chức trong việc áp dụng chuỗi khối. - Những kiến nghị để nâng cao nhận thức về thành quả tổ chức trong việc áp dụng chuỗi khối. Câu hỏi nghiên cứu - Các yếu tố nào ảnh hưởng đến thành quả tổ chức trong việc áp dụng chuỗi khối? - Mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến thành quả tổ chức trong việc áp dụng chuỗi khối như thế nào? - Những kiến nghị nào để nâng cao nhận thức về thành quả tổ chức trong việc áp dụng chuỗi khối? 1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Thành quả tổ chức trong việc áp dụng chuỗi khối.
3 - Đối tượng khảo sát: Các cấp quản lý tại các tổ chức đã và đang ứng dụng chuỗi khối cho tổ chức ở Việt Nam. - Phạm vi nghiên cứu: Tại Việt Nam, hướng đến các công ty đã và đang áp dụng công nghệ chuỗi khối vào các hoạt động liên quan vận hành – sản xuất. - Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8 – tháng 10 năm 2022. Ý nghĩa nghiên cứu Về mặt học thuật, nghiên cứu bổ sung cơ sở lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) và mô hình giá trị kinh doanh công nghệ thông tin trong việc đưa chuỗi khối vào hoạt động kinh doanh tại các tổ chức.
Bên cạnh đó, khẳng định sự cần thiết của các mô hình nghiên cứu truyền thống trong việc nghiên cứu công nghệ, đặc biệt là những công nghệ mới như chuỗi khối. Về thực tiễn, nghiên cứu sẽ đưa ra kiến nghị giúp nâng cao sự hài lòng trong việc áp dụng chuỗi khối vào quy trình vận hành và hoạt động của tổ chức. Các yếu tố trong nghiên cứu này giúp cho các nhà quản lý có thêm tài liệu tham khảo khi vẫn còn đắn đo quyết định có nên áp dụng chuỗi khối cho tổ chức của mình hay không? 4 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 đề cập đến nội dung tổng quan liên quan đến đề tài nghiên cứu như giới thiệu các cơ sở lý thuyết, khái niệm liên quan đến chủ đề nghiên cứu; đồng thời đưa ra mô hình nghiên cứu.
Cơ sở lý thuyết là cơ sở lý luận cho mô hình mà tác giả đề xuất, có vai trò rất quan trọng đối với nghiên cứu. Tổng quan về chuỗi khối 2. Giới thiệu về chuỗi khối Chuỗi khối lần đầu được giới thiệu trong một đề xuất về đồng tiền ảo của Nakamoto (2008), từ đó công nghệ này bắt đầu thu hút nhiều sự quan tâm từ khía cạnh học thuật dựa trên số lượng lớn các công trình đã công bố đến khả năng ứng dụng và thích ứng của công nghệ này. Hiện nay, chuỗi khối được ứng dụng vào các hoạt động trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau (Li và cộng sự, 2017).
Tuy nhiên, cho đến hiện nay, chưa có một định nghĩa nào diễn giải một cách chính xác về công nghệ này. Theo Xu và cộng sự (2019) chuỗi khối là một công nghệ lưu trữ, quản lý dữ liệu tiên tiến và phân cấp trong các khối. Tại đây, các khối sẽ kết nối với nhau bằng những liên kết rất phức tạp và ngày càng được mở rộng theo thời gian. Dữ liệu cũng có được sự nhất quán theo trình tự thời gian vì người dùng không thể xóa hoặc sửa đổi thông tin nếu không có sự đồng thuận từ mạng lưới chuỗi khối (Gourisetti và cộng sự, 2019).
Theo Dattani và Sheth (2019) chuỗi khối gồm những loại chính sau: chuỗi khối công khai (Public Blockchain), chuỗi khối riêng tư (Private Blockchain), chuỗi khối hỗn hợp (Hybrid Blockchain) và chuỗi khối liên hợp (Consortium Blockchain). Tùy vào mục đích sử dụng mà tổ chức có thể lựa chọn loại chuỗi khối phù hợp với nhu cầu và định hướng phát triển của tổ chức. Các đặc tính cơ bản của chuỗi khối là tính phi tập trung, độ tin cậy cao, khả năng quản lý dữ liệu minh bạch và tính toàn vẹn. Bên cạnh đó, chuỗi khối còn được thiết kế để chống lại việc thay đổi dữ liệu trái phép (Viriyasitavat và cộng sự, 2019).
Khi 5 đó, chuỗi khối được xem như một sổ cái giúp ghi lại toàn bộ lịch sử giao dịch của toàn hệ thống đang được sử dụng chuỗi khối, vì thế có thể áp dụng chuỗi khối để có thể theo dõi cho các đơn đặt hàng, khoản thanh toán, tài khoản và những giao dịch khác. Khi đó, các khối thông tin đều chứa thông tin về thời gian khởi tạo, liên kết với khối được tạo trước đó kèm với thời gian giao dịch và dữ liệu giao dịch. Chuỗi khối cũng có những cơ chế tích hợp để ngăn chặn việc nhập giao dịch trái phép giúp tạo ra sự nhất quan trong chế độ xem chung của các giao dịch (Brilliantova và Thurner, 2019).