Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRỌNG DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRÌNH ĐỘ CAO 1.1 Khái niệm, đặc điểm của nguồn nhân lực KH&CN trình độ cao 1.1 Nguồn nhân lực Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Khái niệm "Nguồn lực con người" hay "nguồn nhân lực” được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển. Nguồn nhân lực (Human Resourse) được hiểu là nguồn lực về con người, trong mỗi con người. Tổ chức lao động quốc tế đưa ra khái niệm “nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động” [23, tr.
Còn Ngân hàng Thế giới cho rằng “nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người, bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp…của mỗi cá nhân” [18, tr.TS Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH”. Khi nói đến nguồn nhân lực chúng ta hiểu là tổng thể các tiềm năng lao động của một tổ chức, một địa phương, một quốc gia trong thể thống nhất mà nhờ đó nguồn lực con người biến thành nguồn vốn đáp ứng yêu cầu phát 8 triển. Nguồn lực trong mỗi con người bao gồm cả thể lực và trí lực, nó thể hiện ra bên ngoài bởi khả năng làm việc. Nó bao gồm sức khỏe, trình độ, tâm lý, ý thức, mức độ cố gắng, sáng tạo, lòng đam mê.
Như vậy, xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhưng những khái niệm này đều thống nhất nội dung cơ bản: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Con người với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển. Khi nghiên cứu về nguồn nhân lực phải xem xét, đánh giá trên cả hai mặt số lượng và chất lượng. Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực; chất lượng nguồn nhân lực thể hiện thông qua các chỉ tiêu về trình độ đào tạo chuyên môn, trình độ tin học, ngoại ngữ… Vì vậy, có thể định nghĩa: Nguồn nhân lực là tổng thế số lượng, chất lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực, là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, giữ vai trò quyết định sự phát triển kinh tế , xã hội của mọi quốc gia.2 Nguồn nhân lực KH&CN Hiện nay, khái niệm nguồn nhân lực KH&CN chưa được hiểu một cách thống nhất.
Tác giả Đặng Bá Lãm, Trần Khánh Đức đưa ra cách hiểu chung nhất về nhân lực KH&CN là một bộ phận của lực lượng lao động xã hội được đào tạo ở những trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhất định và tham gia trực tiếp (hay gián tiếp) vào các hoạt động KH&CN từ nghiên cứu, triển khai đến đào tạo, quản lý và vận hành các hệ thống công nghệ. Đội ngũ nhân lực KH&CN có nhiều mức độ trình độ đào tạo khác nhau từ công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ đến đội ngũ kỹ sư, kỹ thuật viên, chuyên gia có trình độ đại học và sau đại học [19, tr. 9 Theo định nghĩa của UNESCO, nhân lực KH&CN là tổng số những người trực tiếp tham gia hoạt động KHCN của một cơ quan, tổ chức và được trả tiền công cho sự tham gia đó. Những người này bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân viên hỗ trợ.
Năm 1995, tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đề xuất phương pháp luận đánh giá nhân lực KH&CN tại Sổ tay Canberra, theo đó nguồn nhân lực KH&CN (Human resources in science and technology, viết tắt là HRST) của một quốc gia/vùng lãnh thổ bao gồm toàn bộ những người hoàn thành bậc giáo dục đại học (tương ứng bậc 5-8) hoặc những người tuy chưa được đào tạo chính quy như trên nhưng làm một nghề thuộc chuyên ngành KH&CN đòi hỏi trình độ tương đương bậc 5-8. Như vậy, theo định nghĩa của OCED thì nhân lực KH&CN bao gồm những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau đây: - Đã tốt nghiệp đại học và cao đẳng và làm việc trong một ngành KH&CN; - Đã tốt nghiệp đại học và cao đẳng, nhưng không làm việc trong một ngành KH&CN nào; - Chưa tốt nghiệp đại học và cao đẳng, nhưng làm một công việc trong một lĩnh vực KH&CN đòi hỏi trình độ tương đương. Khái niệm nhân lực KH&CN này theo nghĩa rộng. Theo đó, có thể hiểu nhân lực KH&CN bao gồm cả những người đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng nhưng không làm việc trong lĩnh vực KH&CN.
Có thể thấy khái niệm này dường như quá rộng để thể hiện nguồn nhân lực hoạt động KH&CN của một quốc gia. Do vậy, các nước thường sử dụng khái niệm nhân lực nghiên cứu phát triển, hay còn gọi là R&D (research and development), để thể hiện lực lượng lao động KH&CN của mình. 10 Theo Hướng dẫn thống kê NCPT của OECD (Cẩm nang FRASCATI), nhân lực NCPT bao gồm những người trực tiếp tham gia vào hoạt động NCPT hoặc trực tiếp hỗ trợ hoạt động NCPT. Nhân lực NCPT được chia thành 3 nhóm: - Nhóm 1: Cán bộ nghiên cứu (nhà nghiên cứu/nhà khoa học/kỹ sư nghiên cứu).
Đây là những cán bộ chuyên nghiệp có trình độ cao đẳng/đại học, thạc sĩ và tiến sĩ hoặc không có văn bằng chính thức, song làm các công việc tương đương như nhà nghiên cứu/nhà khoa học, tham gia vào quá trình tạo ra tri thức, sản phẩm và quy trình mới, tạo ra phương pháp và hệ thống mới. - Nhóm 2: Nhân viên kỹ thuật và tương đương. Nhóm này bao gồm những người thực hiện các công việc đòi hỏi phải có kinh nghiệm và hiểu biết kỹ thuật trong những lĩnh vực của KH&CN. Họ tham gia vào NCPT bằng việc thực hiện những nhiệm vụ khoa học và kỹ thuật có áp dụng những khái niệm và phương pháp vận hành dưới sự giám sát của các nhà nghiên cứu.
- Nhóm 3: Nhân viên phụ trợ trực tiếp NCPT. Bao gồm những người có hoặc không có kỹ năng, nhân viên hành chính văn phòng tham gia vào các dự án NCPT. Trong nhóm này bao gồm cả những người làm việc liên quan đến nhân sự, tài chính và hành chính trực tiếp phục vụ công việc NCPT của các tổ chức NCPT. Với các cách tìm hiểu về nhân lực KH&CN như trên, chúng ta có thể định nghĩa “Nguồn nhân lực KH&CN là tập hợp những nhóm người tham gia vào các hoạt động KH&CN với các chức năng nghiên cứu sáng tạo, giảng dạy, quản lý, khai thác sử dụng và tác nghiệp, góp phần quyết định tạo ra sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, của sự phát triển sản xuất và xã hội”.3 Nguồn nhân lực KH&CN trình độ cao 11 Khi tìm hiểu về cơ cấu nguồn nhân lực người ta xem xét trên các mặt về độ tuổi, giới tính, trình độ đào tạo, chuyên môn…trong đó trình độ đào tạo của nhân lực nói chung là vấn đề quan trọng thể hiện chất lượng, năng lực, khả năng của nguồn nhân lực.
Có một số quan niệm liên quan khi nói đến nguồn nhân lực chất lượng cao, chẳng hạn như: Nguồn nhân lực chất lượng cao là đội ngũ nhân lực có thể lực tốt, có trình độ và năng lực cao, là lực lượng xung kích tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, thực hiện có kết quả việc ứng dụng công nghệ vào điều kiện nước ta [17], hay “Nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ lực lượng lao động có học vấn, có trình độ chuyên môn cao, có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi của công nghệ sản xuất” [8]. Hoặc trong các chính sách phát triển nguồn nhân lực của một số địa phương, như Thành phố Đà Nẵng, xác định nguồn nhân lực chất lượng cao gồm những người có trình độ học vấn, trình độ chuyên môn cao; các nhà lãnh đạo Tỉnh Bình Dương xác định là những người có học hàm, học vị, có năng lực đích thực, tuổi đời không quá 50, có đủ sức khỏe…[10, tr. Như vậy, điểm chung trong các quan niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao là có trình độ về học vấn và trình độ chuyên môn, thể hiện qua kết quả thực hiện công việc và có sự thích ứng nhanh với sự thay đổi của môi trường làm việc. Theo tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận ưu tú nhất của nguồn nhân lực đất nước, bao gồm những người tiêu biểu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; có trình độ học vấn, chuyên môn cao; sức khỏe tốt (theo độ tuổi); luôn đi đầu trong lao động, sáng tạo khoa học, đóng góp tích cực, hiệu quả vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nguồn nhân lực KH&CN là bộ phận của nguồn nhân lực nói chung và đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước nói 12 chung và giữ vai trò quyết định cho sự phát triển về KH&CN nói riêng của đất nước. Nguồn nhân lực KH&CN trình độ cao là một bộ phận quan trọng của nguồn nhân lực KH&CN. Với những lý luận về khái niệm nguồn nhân lực KH&CN như trên, với việc xem xét vấn đề liên quan về khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao, khi nghiên cứu về nguồn nhân lực KH&CN tại Viện Hàn lâm KHCNVN và giới hạn đối tượng là nguồn nhân lực KH&CN trình độ cao, tác giả xin đưa ra một số các tiêu chí đánh giá về nguồn nhân lực KH&CN trình độ cao tại Viện Hàn lâm KHCNVN như sau: - Thứ nhất, nguồn nhân lực KH&CN trình độ cao tại Viện Hàn lâm KHCNVN là những người có học hàm, học vị Tiến sĩ trở lên phù hợp với vị trí việc làm. Nguồn nhân lực trong khu vực công nói chung và nguồn nhân lực KH&CN tại Viện Hàn lâm KHCNVN nói riêng phải là những người được đào tạo cơ bản về chuyên môn phù hợp với vị trí việc làm trong cơ quan, tổ chức.