Luận án tiến sĩ về phát triển sức bền cho nam vận động viên điền kinh cự ly trung bình tuổi 16-17

Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng bài tập phát triển sức bền cho nam vận động viên điền kinh cự ly trung bình tuổi 16-17 Bộ Công an.

Trường đại học

Bộ Công an

Chuyên ngành

Giáo dục học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

224
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Các khái niệm có liên quan

1.2. Đặc điểm chạy cự ly trung bình trong môn Điền kinh

1.3. Các quan điểm về huấn luyện VĐV chạy cự ly trung bình trong môn Điền kinh

1.4. Đặc điểm huấn luyện sức bền trong thể thao

1.5. Các phương pháp huấn luyện sức bền cho VĐV chạy cự ly trung bình

1.6. Những yếu tố ảnh hưởng đến huấn luyện sức bền cho vận động viên chạy cự ly trung bình

1.7. Các công trình nghiên cứu có liên quan

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

2.2.2. Phương pháp phỏng vấn, tọa đàm

2.2.3. Phương pháp quan sát sư phạm

2.2.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm

2.2.5. Phương pháp kiểm tra y sinh

2.2.6. Phương pháp kiểm tra tâm lý

2.2.7. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

2.2.8. Phương pháp toán học thống kê

2.3. Tổ chức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1. Nghiên cứu lựa chọn tiêu chuẩn đánh giá sức bền cho nam vận động viên Điền kinh cự ly trung bình lứa tuổi 16-17 Bộ Công an

3.2. Nghiên cứu lựa chọn các test đánh giá trình độ sức bền của nam vận động viên Điền kinh cự ly trung bình lứa tuổi 16-17 Bộ Công an

3.3. Xác định tính thông báo và độ tin cậy các test đánh giá sức bền của nam vận động viên Điền kinh cự ly trung bình lứa tuổi 16-17 Bộ Công an

3.4. Nghiên cứu tiêu chuẩn đánh giá sức bền cho nam vận động viên Điền kinh cự ly trung bình Bộ Công an

3.5. Bàn luận về tiêu chuẩn đánh giá sức bền cho nam vận động viên Điền kinh cự ly trung bình lứa tuổi 16-17 Bộ Công an

3.6. Nghiên cứu lựa chọn hệ thống các bài tập phát triển sức bền cho nam vận động viên Điền kinh cự ly trung bình lứa tuổi 16-17 Bộ Công an

3.6.1. Thực trạng công tác huấn luyện sức bền cho nam vận động viên Điền kinh cự ly trung bình Bộ Công an

3.6.2. Đánh giá thực trạng sức bền cho nam VĐV Điền kinh cự ly trung bình lứa tuổi 16-17 Bộ Công an

3.6.3. Nghiên cứu lựa chọn các bài tập phát triển sức bền cho nam vận động viên Điền kinh cự ly trung bình lứa tuổi 16-17 Bộ Công an

3.6.4. Bàn luận về hệ thống các bài tập phát triển sức bền cho nam vận động viên điền kinh cự ly trung bình lứa tuổi 16-17 Bộ Công an

3.7. Nghiên cứu đánh giá hiệu quả các bài tập phát triển sức bền cho nam vận động viên Điền kinh cự ly trung bình lứa tuổi 16-17 Bộ Công an

3.7.1. Tổ chức thực nghiệm. Đánh giá hiệu quả các bài tập phát triển sức bền trên đối tượng nghiên cứu

3.7.2. Bàn luận về hiệu quả các bài tập phát triển sức bền cho nam vận động viên Điền kinh cự ly trung bình lứa tuổi 16-17 Bộ Công an

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu ứng dụng bài tập phát triển sức bền cho vận động viên 16 17 tuổi

Nghiên cứu ứng dụng bài tập phát triển sức bền cho vận động viên điền kinh lứa tuổi 16-17 là một chủ đề quan trọng trong lĩnh vực thể thao. Đối tượng nghiên cứu là những vận động viên trẻ, đang trong giai đoạn phát triển thể chất và kỹ thuật. Sức bền là một trong những yếu tố quyết định đến thành tích thi đấu của vận động viên. Việc áp dụng các bài tập phát triển sức bền không chỉ giúp cải thiện thể lực mà còn nâng cao khả năng thi đấu của các vận động viên trẻ. Nghiên cứu này sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về tầm quan trọng của sức bền trong thể thao, đặc biệt là trong môn điền kinh.

1.1. Đặc điểm của vận động viên điền kinh tuổi 16 17

Vận động viên điền kinh ở độ tuổi 16-17 thường có sự phát triển mạnh mẽ về thể chất và tâm lý. Đây là giai đoạn mà cơ thể đang trong quá trình hoàn thiện, do đó, việc áp dụng các bài tập phát triển sức bền là rất cần thiết. Các nghiên cứu cho thấy rằng, sức bền không chỉ ảnh hưởng đến khả năng thi đấu mà còn đến sự phát triển toàn diện của vận động viên.

1.2. Tầm quan trọng của sức bền trong thể thao

Sức bền là yếu tố quan trọng trong thể thao, đặc biệt là trong môn điền kinh. Nó giúp vận động viên duy trì hiệu suất thi đấu trong thời gian dài. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, những vận động viên có sức bền tốt thường có thành tích thi đấu cao hơn. Do đó, việc phát triển sức bền cho vận động viên trẻ là một nhiệm vụ cấp bách.

II. Những thách thức trong việc phát triển sức bền cho vận động viên điền kinh 16 17 tuổi

Mặc dù việc phát triển sức bền cho vận động viên điền kinh tuổi 16-17 là rất quan trọng, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức. Một trong những thách thức lớn nhất là việc thiết kế chương trình tập luyện phù hợp với đặc điểm sinh lý của lứa tuổi này. Ngoài ra, việc duy trì động lực và sự kiên trì trong tập luyện cũng là một vấn đề cần được chú ý.

2.1. Khó khăn trong việc thiết kế chương trình tập luyện

Thiết kế chương trình tập luyện cho vận động viên tuổi 16-17 cần phải cân nhắc đến sự phát triển thể chất và tâm lý của họ. Các bài tập cần phải được điều chỉnh để phù hợp với khả năng của từng vận động viên. Việc này đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về sinh lý học thể thao và kinh nghiệm thực tiễn.

2.2. Duy trì động lực cho vận động viên trẻ

Động lực là yếu tố quan trọng trong quá trình tập luyện. Vận động viên trẻ thường dễ bị phân tâm và mất hứng thú. Do đó, việc tạo ra một môi trường tập luyện tích cực và khuyến khích là rất cần thiết. Các huấn luyện viên cần có những phương pháp phù hợp để giữ cho vận động viên luôn hứng thú với việc tập luyện.

III. Phương pháp tập luyện sức bền hiệu quả cho vận động viên điền kinh 16 17 tuổi

Để phát triển sức bền cho vận động viên điền kinh tuổi 16-17, cần áp dụng các phương pháp tập luyện khoa học và hiệu quả. Các bài tập cần được thiết kế để tối ưu hóa khả năng chịu đựng và sức bền của vận động viên. Việc kết hợp giữa các bài tập aerobic và anaerobic sẽ giúp cải thiện sức bền một cách toàn diện.

3.1. Các bài tập aerobic cho phát triển sức bền

Bài tập aerobic là một phần quan trọng trong chương trình tập luyện sức bền. Các bài tập như chạy dài, bơi lội, và đạp xe giúp cải thiện khả năng tim mạch và sức bền cơ bắp. Nghiên cứu cho thấy rằng, việc thực hiện các bài tập aerobic thường xuyên sẽ giúp vận động viên nâng cao sức bền một cách hiệu quả.

3.2. Bài tập anaerobic và tác động của nó

Bài tập anaerobic, như chạy nước rút và các bài tập sức mạnh, cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển sức bền. Những bài tập này giúp tăng cường sức mạnh cơ bắp và khả năng chịu đựng của vận động viên. Việc kết hợp giữa aerobic và anaerobic sẽ tạo ra một chương trình tập luyện toàn diện.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về sức bền cho vận động viên 16 17 tuổi

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng hệ thống bài tập phát triển sức bền cho vận động viên điền kinh tuổi 16-17 đã mang lại những kết quả tích cực. Các vận động viên đã cải thiện đáng kể thành tích thi đấu và khả năng chịu đựng. Việc này không chỉ giúp nâng cao hiệu suất thi đấu mà còn góp phần phát triển toàn diện cho vận động viên.

4.1. Kết quả thực nghiệm từ các bài tập phát triển sức bền

Kết quả thực nghiệm cho thấy rằng, sau khi áp dụng hệ thống bài tập phát triển sức bền, các vận động viên đã có sự cải thiện rõ rệt về sức bền và thành tích thi đấu. Các chỉ số sức bền được đo lường trước và sau khi thực hiện chương trình tập luyện cho thấy sự gia tăng đáng kể.

4.2. Phân tích hiệu quả của các bài tập

Phân tích hiệu quả của các bài tập cho thấy rằng, những bài tập được thiết kế khoa học và phù hợp với lứa tuổi đã giúp vận động viên phát triển sức bền một cách hiệu quả. Các bài tập này không chỉ giúp cải thiện thể lực mà còn nâng cao tinh thần thi đấu của vận động viên.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai cho nghiên cứu sức bền

Nghiên cứu ứng dụng bài tập phát triển sức bền cho vận động viên điền kinh tuổi 16-17 đã chỉ ra tầm quan trọng của việc phát triển sức bền trong thể thao. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, việc áp dụng các bài tập phát triển sức bền không chỉ giúp cải thiện thành tích thi đấu mà còn góp phần phát triển toàn diện cho vận động viên. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp tập luyện mới để nâng cao hiệu quả huấn luyện.

5.1. Đề xuất các phương pháp nghiên cứu mới

Cần nghiên cứu thêm về các phương pháp tập luyện mới, kết hợp giữa khoa học thể thao và công nghệ để nâng cao hiệu quả huấn luyện. Việc áp dụng công nghệ trong theo dõi và đánh giá quá trình tập luyện sẽ giúp huấn luyện viên có cái nhìn chính xác hơn về sự phát triển của vận động viên.

5.2. Tương lai của nghiên cứu sức bền trong thể thao

Nghiên cứu sức bền trong thể thao sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao thành tích thi đấu. Cần có sự đầu tư và quan tâm đúng mức từ các cơ quan chức năng để phát triển nghiên cứu này, nhằm tạo ra những vận động viên xuất sắc cho thể thao Việt Nam.

24/07/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng bài tập phát triển sức bền cho nam vđv điền kinh cự ly trung bình lứa tuổi 16 17 bộ công an

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm có liên quan Khái niệm về Điền kinh: Điền Kinh là một trong những môn thể thao cơ bản có vị trí quan trọng cho TDTT cho mọi người và huấn luyện thể thao bao gồm các nội dung: đi bộ, chạy, nhảy, ném đẩy và nhiều môn phối hợp. Từ “Điền kinh” thường dùng ở nước ta thực chất là một từ Hán - Việt, được dùng để biểu thị những hoạt động tập luyện và thi đấu ở trên sân (điền) và trên đường chạy (kinh). Theo tiếng Trung Quốc, “điền” có nghĩa là “ruộng” còn “kinh” có nghĩa là “đường”.

“Điền kinh” là tên gọi chung cho các môn thể thao được tiến hành trên “sân” và trên “đường”. Cách gọi của nhiều nước khác cũng được hiểu theo nghĩa này. Tuy nhiên, tên gọi đó chỉ có thể phù hợp với thời kì ban đầu bởi lẽ ngày nay người ta còn sáng tạo ra rất nhiều môn thể thao khác thuộc Điền kinh mà không chỉ tiến hành ở “sân”, ở “đường”. Trong tiếng Hi Lạp cổ, từ “điền kinh” có nghĩa tương ứng với từ “aletic” và từ “athletics” trong tiếng Anh.

Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới đều lấy “Điền kinh” làm tên gọi của các môn thể thao cơ bản [9], [89]. Khái niệm về chạy cự ly trung bình: Trong Điền kinh, chạy được chia nhiều loại: Chạy trên đường bằng, chạy vượt chướng ngại vật, chạy tiếp sức và chạy trong điều kiện tự nhiên. Chạy cự ly trung bình gồm các cự ly từ 500m đến 2000m. Trong đó các môn chạy 800m đến 1500m là các môn thi trong đại hội thể thao Olympic [9].

Khái niệm về sức bền: Sức bền ở đây chỉ đề cập tới giới hạn phạm vi sức bền của con người trong hoạt động thể lực của họ. Hiện nay trong các tài liệu chuyên môn TDTT vẫn có sự không nhất quán trong việc định nghĩa về sức bền một tố chất thể lực rất cần thiết cho con người. 6 Rất nhiều người đồng ý với nhà sinh lí học V. Pharfel, khi ông cho rằng: “Sức bền, đó là khả năng của con người chống lại sự mệt mỏi”.

Năm 1971, hội nghị khoa học toàn Liên bang Nga (Liên Xô cũ) về các thuộc tính sinh hoá và sư phạm của sức bền đã ra định nghĩa: “Sức bền đó là khả năng duy trì một công cho trước với thời gian dài”. Thực ra ở đây chỉ là ước lệ: Nếu phải chạy với tần số bước tối đa thì mươi mười lăm giây đã dài, nhưng đi dạo mát thì hàng giờ cũng coi là ngắn [39]. Có một định nghĩa khác: “Sức bền là năng lực của cơ thể chống lại sự mệt mỏi trong một hoạt động nào đó” [31]. Như vậy, chúng ta có thể chấp nhận định nghĩa: “Sức bền là năng lực thực hiện (hoặc duy trì) một hoạt động với cường độ cho trước trong thời gian dài nhất mà cơ thể chịu đựng được”.

Do sự phong phú và đa dạng của các hoạt động thể lực ở con người mà phân làm hai loại sức bền chính: Sức bền chung và Sức bền chuyên môn. Sức bền chung là sức bền trong các hoạt động kéo dài với cường độ thấp và có sự tham gia của phần lớn hệ cơ. Sức bền chuyên môn là năng lực duy trì khả năng vận động cao trong những loại hình bài tập nhất định. Như vậy, Sức bền chung là sức bền cần cho mọi người với ý nghĩa là một con người bình thường.

Còn Sức bền chuyên môn là sức bền để con người có thể hoàn thành tốt công việc mà mình đang đảm nhiệm hoặc rộng hơn là nghề nghiệp mình đã chọn. Trong thể thao: Sức bền chuyên môn là khả năng thực hiện có hiệu quả một công mang tính đặc thù chuyên môn, đáp ứng được những yêu cầu của môn thể thao lựa chọn trong thời gian dài [26]. Riêng với các môn thể thao hoạt động theo chu kì cho ta thấy: Sức bền của hệ tuần hoàn và sức bền hệ cơ cung cấp năng lượng có ý nghĩa đặc biệt. Tuỳ theo thời gian kéo dài của cuộc thi mà vai trò của từng yếu tố có mức độ khác nhau.

Tập luyện và thi đấu trong thời gian trung bình (từ 2 đến 11 phút): Loại 7 sức bền cần thiết ở đây là sức bền của hệ tuần hoàn. Nó đòi hỏi sự hoạt động oxy trong điều kiện đủ và cả khi thiếu oxy [25]. Tập luyện sức bền trong thời gian dài (từ 11 phút đến nhiều giờ): Loại sức bền cần thiết chủ yếu ở đây là sức bền năng lượng. Tuy nhiên với thời gian từ 11 đến 30 phút vẫn có yêu cầu về khả năng hoạt động trong điều kiện có nợ oxy, còn với thời gian từ 90 phút trở lên dường như chỉ có yêu cầu thích nghi tốt với hoạt động trong điều kiện có đủ oxy [25].

Việc tập luyện nhằm nâng cao sức bền rất được các nhà khoa học, các VĐV, các huấn luyện viên và cả những người tập luyện vì sức khoẻ của bản thân quan tâm (nghiên cứu, thực hiện) do ý nghĩa của nó đối với sức khoẻ, với hiệu quả lao động ở mỗi người, với khả năng hoàn thành nhiệm vụ trong quá trình huấn luyện và trong thi đấu, nhất là thành tích thi đấu của VĐV. Việc tập luyện nêu trên có cơ chế rất phức tạp và có tác động dẫn tới những thay đổi cả về hình thái và chức năng của cơ thể người tập. Đó là các thay đổi tốt trong cấu trúc của cơ, khớp, dây chằng, về tỉ lệ giữa các thành phần cấu tạo nên cơ thể (giảm tỉ lệ mỡ thừa tích luỹ trong cơ thể), rèn luyện cho các cơ quan nội tạng quen với hoạt động sức bền. Khái niệm bài tập thể dục thể thao: Bài tập TDTT là những hoạt động vận động chuyên biệt do con người sáng tạo ra một cách có ý thức, có chủ đích, phù hợp với qui luật giáo dục thể chất, là phương tiện huấn luyện chủ yếu trong các môn thể thao [65].

Theo Lưu Quang Hiệp, Phạm Thị Uyên, bài tập là một tổ hợp các tác động có liên quan chặt chẽ với nhau nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định [24]. Theo sinh lý TDTT, bài tập là "Một tổ hợp các động tác có liên quan chặt chẽ với nhau nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định được gọi là bài tập" [5], [13]. Để nắm được nội dung của bài tập TDTT nào đó, nhà sư phạm không những cần hiểu những biến đổi sinh lý, sinh hóa và những biến đổi khác xảy ra 8 trong cơ thể do ảnh hưởng của bài tập mà điều chủ yếu là hiểu được phương hướng tác dụng của bài tập đối với việc thực hiện những nhiệm vụ giáo dục và giáo dưỡng đặt ra [51]. Một đặc trưng quan trọng của bài tập TDTT là nó được xây dựng trên cơ sở những hoạt động, vận động có ý thức.

Đó là những hành vi vận động có chủ đích, liên quan đến nhiều quá trình tâm lý: sự biểu hiện về động tác, hoạt động tư duy, cảm xúc, v.v… có ảnh hưởng mạnh đối với sự biểu hiện ý chí, tình cảm, tính cách [75]. Hình thức và nội dung của bài tập TDTT liên quan hữu cơ với nhau, trong đó nội dung là mặt quyết định và động hơn. Điều đó có nghĩa là, để thực hiện được một hoạt động vận động quy định nào đó cao hơn khả năng hiện có, trước hết phải thay đổi một cách tương ứng mặt nội dung của nó. Nội dung thay đổi thì hình thức bài tập cũng thay đổi.

Ví dụ, sức mạnh hoặc sức bền thay đổi thì biên độ, tần số động tác cũng có thể thay đổi. Hình thức có ảnh hưởng đến nội dung. Hình thức chưa hoàn thiện của bài tập sẽ cản trở sự biểu hiện tối đa các khả năng của cơ thể. Ngược lại hình thức hoàn thiện sẽ tạo điều kiện sử dụng có hiệu quả các năng lực thể chất [59].

Trong quá trình lựa chọn bài tập phải đảm bảo 3 yêu cầu nhằm mục đích phù hợp với đặc điểm chuyên môn: Lựa chọn bài tập phải đảm bảo chỉ tiêu đánh giá cụ thể và hình thức tập luyện phù hợp với đặc điểm đối tượng, điều kiện thực tiễn; Lựa chọn bài tập phải đảm bảo độ tin cậy và mang tính thông báo cần thiết với đối tượng nghiên cứu; Lựa chọn bài tập phải đảm bảo tính định hướng toàn diện để hình thành và phát triển thể lực và kỹ chiến thuật. Đặc điểm chạy cự ly trung bình trong môn Điền kinh Điền kinh là môn thể thao có nội dung rất phong phú. Chạy CLTB gồm các cự ly từ trên 400m đến 2000m. Trong đó, chạy từ 800m đến 1500m là các môn thi trong các Đại hội thể thao Olympic.

Thể lực trong chạy cự ly trung bình: Chạy CLTB thuộc vùng công suất dưới cực đại, quá trình thi đấu lượng oxy vượt ngưỡng có thể đạt đến 20 - 25lít, lượng axit lactic trong máu có thể đạt đến 270-200mg%, khả năng hấp thu oxy tối đa (VO2max) đạt đến 75- 90ml/kg/phút. Do vậy, các VĐV chạy CLTB cần có chức năng tuần hoàn và hô hấp tốt. Muốn vậy, để phát triển SBCM cho nam VĐV Điền kinh lứa tuổi 16- 17 thì trước hết phải phát triển cho các em có một nền tảng thể thực chung tốt. Chạy với cường độ dưới cực đại, thời gian tương đối dài (từ 2 đến 5 phút).

Thành tích chạy phụ thuộc vào độ dài và tần số bước chạy phù hợp với trình độ thể lực. Thậm chí khi gần về đích cơ thể rất mệt mỏi còn phải tăng tốc độ [14]. Sức bền chung sẽ giúp VĐV hoàn thành nhiệm vụ từng buổi tập cũng là cơ sở phát triển sức bền tốc độ. Sức bền chuyên môn cho phép VĐV chạy có tốc độ trung bình trên toàn cự ly cao (VĐV kiện tướng đạt tương đương 6m/s).

Yếu tố chính của cự ly này là gây mệt mỏi, giảm thành tích chạy, tăng lượng axit lacticvà C02 trong máu cao. Tập luyện nhằm phát triển nhiều mặt cho VĐV như: làm quan, chịu đựng mệt mỏi, dễ dàng vượt qua trạng thái “cực điểm”, duy trì tốc độ trung bình cao, thực hiện được các phương án chiến thuật trong thi đấu… [14]. Yếu tố tiết kiệm năng lượng, thở sâu tích cực, luân phiên dùng sức và thả lỏng cơ bắp là những cách để duy trì khả năng chạy tốc độ cao, giúp VĐV có cảm giác tốc độ đảm bảo đúng chiến thuật đặt ra [30]. Kĩ thuật chạy cự ly trung bình Kĩ thuật chạy CLTB được chia thành các giai đoạn sau: xuất phát và tăng tốc độ sau xuất phát, chạy giữa quãng và về đích.

Do thành tích chạy một cự ly được quyết định bởi thành tích đoạn chạy giữa quãng nên kĩ thuật của các giai đoạn khác ít được chú ý.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ