CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm có liên quan Khái niệm về Điền kinh: Điền Kinh là một trong những môn thể thao cơ bản có vị trí quan trọng cho TDTT cho mọi người và huấn luyện thể thao bao gồm các nội dung: đi bộ, chạy, nhảy, ném đẩy và nhiều môn phối hợp. Từ “Điền kinh” thường dùng ở nước ta thực chất là một từ Hán - Việt, được dùng để biểu thị những hoạt động tập luyện và thi đấu ở trên sân (điền) và trên đường chạy (kinh). Theo tiếng Trung Quốc, “điền” có nghĩa là “ruộng” còn “kinh” có nghĩa là “đường”.
“Điền kinh” là tên gọi chung cho các môn thể thao được tiến hành trên “sân” và trên “đường”. Cách gọi của nhiều nước khác cũng được hiểu theo nghĩa này. Tuy nhiên, tên gọi đó chỉ có thể phù hợp với thời kì ban đầu bởi lẽ ngày nay người ta còn sáng tạo ra rất nhiều môn thể thao khác thuộc Điền kinh mà không chỉ tiến hành ở “sân”, ở “đường”. Trong tiếng Hi Lạp cổ, từ “điền kinh” có nghĩa tương ứng với từ “aletic” và từ “athletics” trong tiếng Anh.
Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới đều lấy “Điền kinh” làm tên gọi của các môn thể thao cơ bản [9], [89]. Khái niệm về chạy cự ly trung bình: Trong Điền kinh, chạy được chia nhiều loại: Chạy trên đường bằng, chạy vượt chướng ngại vật, chạy tiếp sức và chạy trong điều kiện tự nhiên. Chạy cự ly trung bình gồm các cự ly từ 500m đến 2000m. Trong đó các môn chạy 800m đến 1500m là các môn thi trong đại hội thể thao Olympic [9].
Khái niệm về sức bền: Sức bền ở đây chỉ đề cập tới giới hạn phạm vi sức bền của con người trong hoạt động thể lực của họ. Hiện nay trong các tài liệu chuyên môn TDTT vẫn có sự không nhất quán trong việc định nghĩa về sức bền một tố chất thể lực rất cần thiết cho con người. 6 Rất nhiều người đồng ý với nhà sinh lí học V. Pharfel, khi ông cho rằng: “Sức bền, đó là khả năng của con người chống lại sự mệt mỏi”.
Năm 1971, hội nghị khoa học toàn Liên bang Nga (Liên Xô cũ) về các thuộc tính sinh hoá và sư phạm của sức bền đã ra định nghĩa: “Sức bền đó là khả năng duy trì một công cho trước với thời gian dài”. Thực ra ở đây chỉ là ước lệ: Nếu phải chạy với tần số bước tối đa thì mươi mười lăm giây đã dài, nhưng đi dạo mát thì hàng giờ cũng coi là ngắn [39]. Có một định nghĩa khác: “Sức bền là năng lực của cơ thể chống lại sự mệt mỏi trong một hoạt động nào đó” [31]. Như vậy, chúng ta có thể chấp nhận định nghĩa: “Sức bền là năng lực thực hiện (hoặc duy trì) một hoạt động với cường độ cho trước trong thời gian dài nhất mà cơ thể chịu đựng được”.
Do sự phong phú và đa dạng của các hoạt động thể lực ở con người mà phân làm hai loại sức bền chính: Sức bền chung và Sức bền chuyên môn. Sức bền chung là sức bền trong các hoạt động kéo dài với cường độ thấp và có sự tham gia của phần lớn hệ cơ. Sức bền chuyên môn là năng lực duy trì khả năng vận động cao trong những loại hình bài tập nhất định. Như vậy, Sức bền chung là sức bền cần cho mọi người với ý nghĩa là một con người bình thường.
Còn Sức bền chuyên môn là sức bền để con người có thể hoàn thành tốt công việc mà mình đang đảm nhiệm hoặc rộng hơn là nghề nghiệp mình đã chọn. Trong thể thao: Sức bền chuyên môn là khả năng thực hiện có hiệu quả một công mang tính đặc thù chuyên môn, đáp ứng được những yêu cầu của môn thể thao lựa chọn trong thời gian dài [26]. Riêng với các môn thể thao hoạt động theo chu kì cho ta thấy: Sức bền của hệ tuần hoàn và sức bền hệ cơ cung cấp năng lượng có ý nghĩa đặc biệt. Tuỳ theo thời gian kéo dài của cuộc thi mà vai trò của từng yếu tố có mức độ khác nhau.
Tập luyện và thi đấu trong thời gian trung bình (từ 2 đến 11 phút): Loại 7 sức bền cần thiết ở đây là sức bền của hệ tuần hoàn. Nó đòi hỏi sự hoạt động oxy trong điều kiện đủ và cả khi thiếu oxy [25]. Tập luyện sức bền trong thời gian dài (từ 11 phút đến nhiều giờ): Loại sức bền cần thiết chủ yếu ở đây là sức bền năng lượng. Tuy nhiên với thời gian từ 11 đến 30 phút vẫn có yêu cầu về khả năng hoạt động trong điều kiện có nợ oxy, còn với thời gian từ 90 phút trở lên dường như chỉ có yêu cầu thích nghi tốt với hoạt động trong điều kiện có đủ oxy [25].
Việc tập luyện nhằm nâng cao sức bền rất được các nhà khoa học, các VĐV, các huấn luyện viên và cả những người tập luyện vì sức khoẻ của bản thân quan tâm (nghiên cứu, thực hiện) do ý nghĩa của nó đối với sức khoẻ, với hiệu quả lao động ở mỗi người, với khả năng hoàn thành nhiệm vụ trong quá trình huấn luyện và trong thi đấu, nhất là thành tích thi đấu của VĐV. Việc tập luyện nêu trên có cơ chế rất phức tạp và có tác động dẫn tới những thay đổi cả về hình thái và chức năng của cơ thể người tập. Đó là các thay đổi tốt trong cấu trúc của cơ, khớp, dây chằng, về tỉ lệ giữa các thành phần cấu tạo nên cơ thể (giảm tỉ lệ mỡ thừa tích luỹ trong cơ thể), rèn luyện cho các cơ quan nội tạng quen với hoạt động sức bền. Khái niệm bài tập thể dục thể thao: Bài tập TDTT là những hoạt động vận động chuyên biệt do con người sáng tạo ra một cách có ý thức, có chủ đích, phù hợp với qui luật giáo dục thể chất, là phương tiện huấn luyện chủ yếu trong các môn thể thao [65].
Theo Lưu Quang Hiệp, Phạm Thị Uyên, bài tập là một tổ hợp các tác động có liên quan chặt chẽ với nhau nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định [24]. Theo sinh lý TDTT, bài tập là "Một tổ hợp các động tác có liên quan chặt chẽ với nhau nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định được gọi là bài tập" [5], [13]. Để nắm được nội dung của bài tập TDTT nào đó, nhà sư phạm không những cần hiểu những biến đổi sinh lý, sinh hóa và những biến đổi khác xảy ra 8 trong cơ thể do ảnh hưởng của bài tập mà điều chủ yếu là hiểu được phương hướng tác dụng của bài tập đối với việc thực hiện những nhiệm vụ giáo dục và giáo dưỡng đặt ra [51]. Một đặc trưng quan trọng của bài tập TDTT là nó được xây dựng trên cơ sở những hoạt động, vận động có ý thức.
Đó là những hành vi vận động có chủ đích, liên quan đến nhiều quá trình tâm lý: sự biểu hiện về động tác, hoạt động tư duy, cảm xúc, v.v… có ảnh hưởng mạnh đối với sự biểu hiện ý chí, tình cảm, tính cách [75]. Hình thức và nội dung của bài tập TDTT liên quan hữu cơ với nhau, trong đó nội dung là mặt quyết định và động hơn. Điều đó có nghĩa là, để thực hiện được một hoạt động vận động quy định nào đó cao hơn khả năng hiện có, trước hết phải thay đổi một cách tương ứng mặt nội dung của nó. Nội dung thay đổi thì hình thức bài tập cũng thay đổi.
Ví dụ, sức mạnh hoặc sức bền thay đổi thì biên độ, tần số động tác cũng có thể thay đổi. Hình thức có ảnh hưởng đến nội dung. Hình thức chưa hoàn thiện của bài tập sẽ cản trở sự biểu hiện tối đa các khả năng của cơ thể. Ngược lại hình thức hoàn thiện sẽ tạo điều kiện sử dụng có hiệu quả các năng lực thể chất [59].
Trong quá trình lựa chọn bài tập phải đảm bảo 3 yêu cầu nhằm mục đích phù hợp với đặc điểm chuyên môn: Lựa chọn bài tập phải đảm bảo chỉ tiêu đánh giá cụ thể và hình thức tập luyện phù hợp với đặc điểm đối tượng, điều kiện thực tiễn; Lựa chọn bài tập phải đảm bảo độ tin cậy và mang tính thông báo cần thiết với đối tượng nghiên cứu; Lựa chọn bài tập phải đảm bảo tính định hướng toàn diện để hình thành và phát triển thể lực và kỹ chiến thuật. Đặc điểm chạy cự ly trung bình trong môn Điền kinh Điền kinh là môn thể thao có nội dung rất phong phú. Chạy CLTB gồm các cự ly từ trên 400m đến 2000m. Trong đó, chạy từ 800m đến 1500m là các môn thi trong các Đại hội thể thao Olympic.
Thể lực trong chạy cự ly trung bình: Chạy CLTB thuộc vùng công suất dưới cực đại, quá trình thi đấu lượng oxy vượt ngưỡng có thể đạt đến 20 - 25lít, lượng axit lactic trong máu có thể đạt đến 270-200mg%, khả năng hấp thu oxy tối đa (VO2max) đạt đến 75- 90ml/kg/phút. Do vậy, các VĐV chạy CLTB cần có chức năng tuần hoàn và hô hấp tốt. Muốn vậy, để phát triển SBCM cho nam VĐV Điền kinh lứa tuổi 16- 17 thì trước hết phải phát triển cho các em có một nền tảng thể thực chung tốt. Chạy với cường độ dưới cực đại, thời gian tương đối dài (từ 2 đến 5 phút).
Thành tích chạy phụ thuộc vào độ dài và tần số bước chạy phù hợp với trình độ thể lực. Thậm chí khi gần về đích cơ thể rất mệt mỏi còn phải tăng tốc độ [14]. Sức bền chung sẽ giúp VĐV hoàn thành nhiệm vụ từng buổi tập cũng là cơ sở phát triển sức bền tốc độ. Sức bền chuyên môn cho phép VĐV chạy có tốc độ trung bình trên toàn cự ly cao (VĐV kiện tướng đạt tương đương 6m/s).
Yếu tố chính của cự ly này là gây mệt mỏi, giảm thành tích chạy, tăng lượng axit lacticvà C02 trong máu cao. Tập luyện nhằm phát triển nhiều mặt cho VĐV như: làm quan, chịu đựng mệt mỏi, dễ dàng vượt qua trạng thái “cực điểm”, duy trì tốc độ trung bình cao, thực hiện được các phương án chiến thuật trong thi đấu… [14]. Yếu tố tiết kiệm năng lượng, thở sâu tích cực, luân phiên dùng sức và thả lỏng cơ bắp là những cách để duy trì khả năng chạy tốc độ cao, giúp VĐV có cảm giác tốc độ đảm bảo đúng chiến thuật đặt ra [30]. Kĩ thuật chạy cự ly trung bình Kĩ thuật chạy CLTB được chia thành các giai đoạn sau: xuất phát và tăng tốc độ sau xuất phát, chạy giữa quãng và về đích.
Do thành tích chạy một cự ly được quyết định bởi thành tích đoạn chạy giữa quãng nên kĩ thuật của các giai đoạn khác ít được chú ý.