Đặt vấn đề Chương này có nhiệm vụ tổng quan tình hình nghiên cứu từ trái nghĩa nói chung và từ trái nghĩa tiếng Việt nói riêng, xác lập cơ sở lí thuyết của việc nghiên cứu từ trái nghĩa tiếng Việt. Với nhiệm vụ thứ nhất, để dễ hình dung và tránh lặp lại những điểm không cần thiết về bức tranh lịch sử nghiên cứu từ trái nghĩa, luận án chọn cách tổng quan theo hướng tiếp cận. Với nhiệm vụ thứ hai, luận án chú trọng làm rõ một số vấn đề, khái niệm quan trọng để làm cơ sở cho việc nghiên cứu từ trái nghĩa tiếng Việt. Tổng quan tình hình nghiên cứu từ trái nghĩa Hiện tượng từ trái nghĩa là một hiện tượng có tính phổ quát, được xác lập trên cơ sở của sự liên hệ đối lập hay trái ngược nhau về nghĩa.
Nó vừa là biện pháp tổ chức của từ vựng, vừa là biện pháp tổ chức của tư duy. Vì thế, nó đã được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm dưới góc độ khác nhau, từ ngôn ngữ học cho đến triết học. Trong phần này, luận án tiến hành tổng quan tình hình nghiên cứu từ trái nghĩa theo hướng tiếp cận của những bộ môn khoa học có nghiên cứu nhiều về từ trái nghĩa: triết học và lô gích học, tâm lí học, nhân học, ngôn ngữ học. Ở mỗi hướng tiếp cận, luận án đều tiến hành tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới trước, sau đó tiến hành tổng quan tình hình nghiên cứu ở Việt Nam.
Nói đến hiện tượng từ trái nghĩa, trước hết người ta nghĩ nó là loại đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học, mà cụ thể và trực tiếp nhất là của ngữ nghĩa học từ vựng, vì thế, sau khi điểm qua các cách tiếp cận ngoài ngôn ngữ học, luận án ưu tiên, tập trung làm rõ cách tiếp cận của ngôn ngữ học đối với hiện tượng từ trái nghĩa. Hƣớng tiếp cận của triết học và lô gích học Triết học và lô gích học có lịch sử tiếp cận lâu đời nhất đến từ trái nghĩa so với các hướng tiếp cận khác. Ngược dòng thời gian, có thể coi Aristotle là người đầu tiên đề cập đến từ trái nghĩa qua các phạm trù đối lập giữa mệnh đề khẳng định và mệnh đề phủ định (chẳng hạn, Mọi A là P; Không S là P) [66]. Những đề xuất này của 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Aristotle về sau tiếp tục được đề cập, phát triển trong triết học và ngôn ngữ học hiện đại trong đó có cấu trúc luận và tạo sinh luận [113].
Tuy nhiên, vấn đề từ trái nghĩa xét trong mối liên hê ̣ v ới vấ n đề nghiã từ vựng không ph ải là ưu tiên hàng đầu của các nhà triết học và lô gích học; truyền thống triết học và lô gić h h ọc tiền hiện đại quan tâm nhiều đến các vấ n đề như tên riêng , quy chiếu, chỉ vật, nội hàm, ngoại diên,.; cái gọi là nghiã thường chỉ đươ ̣c đề cập tới trong sự phân biê ̣t hay đ ập nhập với cái gọi là ngoại diên hoă ̣c sự quy chiếu hay chỉ vật mà thôi. Vì thế mà ở thời hiện đại vẫn có người phải thốt lên rằ ng “không thấy có nhiều quan tâm đến vấ n đề nghiã từ vựng trong truyền thống ngữ nghiã h ọc triết học” [133, tr. Dầu vậy, đến thế kỉ XX, trong tinh thần của triết học toàn thể luận (holism), triết học phân tích mà cụ thể là chủ nghĩa lô gích thực chứng, lô gích biểu hiệu,…, từ trái nghĩa đã được chú ý nghiên cứu nhiều hơn do chỗ chúng được xem như là một loại thực thể có trong các phép toán lô gích dùng để giúp con người hiểu được tính đúng sai/ chân trị của mệnh đề, và do đó, hiểu được rõ ngôn ngữ tự nhiên và có thể xây dựng được một thứ ngôn ngữ hình thức (siêu ngôn ngữ) để biểu đạt chân lí tốt hơn. Cái được gọi là từ trái nghĩa ở trong triết học và lô gích học thường được xem là những đối lập lưỡng phân loại trừ nhau, và do đó, tương ứng với lớp từ trái nghĩa bổ sung của ngôn ngữ học.
Do là sản phẩm của quá trình phân lập dựa trên sự liên hê ̣ về nghĩa nên từ trái nghĩa thường được xem xét liên quan đến tính chân trị của mệnh đề, liên quan đến các định đề ngữ nghĩa, các tác tử và lượng từ lô gić h,. Ví dụ, trong một mệnh đề phân tích bằng Anh ngữ có xuất hiện cặp từ trái nghĩa married-unmarried như No unmarried man is married, tính chân trị của mệnh đề này hoàn toàn được xác định là nhờ vào các yếu tố nội ngôn, tức nhờ vào bản thân mệnh đề, không cần viện đến các yếu tố ngoại ngôn. Hoặc như, đối với một mệnh đề phân tích có chứa cặp từ trái nghĩa to-nhỏ: To và nhỏ là những từ trái nghĩa với nhau, ta hoàn toàn có thể cải biến mệnh đề này thành một phép toán lô gích hình thức, tức một định đề ngữ nghĩa như: - x [to (x) ¬ nhỏ (x)]. Phép toán này có thể được đọc là: mọi vật nếu chứa trong mình thuộc tính to, thì suy ra/ kéo theo (đương nhiên), không nhỏ.
Cách tiế p câ ̣n dùng các định đề ngữ nghiã như vậy để xác định quan hệ lô gích - ngữ nghiã nói chung và quan hê ̣ trái nghiã nói riêng luôn sử du ̣ng đến mô ̣t quan hê ̣ lô gích đặc biệt là quan hệ suy ra. Quan hê ̣ suy ra giữa những từ trái nghĩa như vậy là quan hê ̣ suy ra đ ối xứng, hai chiều. Do các thực thể ngôn ngữ trong phép suy ra này 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có tính chất phủ định lẫn nhau, cho nên, ta có thể g ọi phép suy ra đối xứng này là phép suy ra đối xứng phủ định. Cách tiếp cận này cho phép ta nhận diện được những đơn vị ngôn ngữ, những khái niệm hoàn toàn đối lập nhau theo kiểu: khẳng định tính chân trị của khái niệm này có nghĩa là phủ định tính chân trị của khái niệm kia, và ngược lại.
Cách tiếp cận này đã được áp dụng cho việc xử lí một bộ phận hữu hạn các đơn vị từ vựng trái nghĩa có tính chân trị lưỡng phân, phủ định nhau một cách tuyệt đối. Tuy nhiên, lối tiếp cận đơn trị này đã thoát li khỏi hẳn đời sống ngôn ngữ, do đó, không có sức lí giải hiện tượng trái nghĩa thực. Trong thực tiễn hành ngôn, ngay cả những đơn vị từ vựng mà ta tưởng rằng chúng có tính đơn trị tuyệt đối về mặt lô gích cũng không hề đơn trị. Xin dẫn vài ví dụ.
Nói rằng Hôm nay không nắng, một mệnh đề phủ định, thì không có nghĩa là Hôm nay mưa, một mệnh đề khẳng định. Nói rằng A không khôn không có nghĩa là A dốt. Nói rằng A ngồi bàn trên/ trước thì, trong nhiều trường hợp cũng có nghĩa là A ngồi bàn dưới/ sau. A cao hơn B, hoàn toàn tương đẳng với cách nói B thấp hơn A.
A ghét B đẳng trị cùng B ghét A, và cả hai cách nói này đẳng trị cùng cách nói thứ ba A và B ghét nhau. Ở Việt ngữ học, cách tiếp cận từ góc độ triết học, lô gích học đến từ trái nghĩa mới chỉ được vận dụng lẻ tẻ ở một số tác giả. Hoàng Phê [43], Nguyễn Đức Dân [14, 16, 17], Nguyễn Hữu Chương [12] là những tác giả đã bước đầu vận dụng cách tiếp cận sử dụng phép toán phủ định ở bậc vị từ vào trong các công trình nghiên cứu của mình. Tuy nhiên, trong những công trình này, việc nhận diện từ trái nghĩa dưới góc nhìn của lô gích học không phải là mục đích cuối cùng, lô gích học chỉ là một trong những cách tiếp cận có hiệu lực và có giá trị ứng dụng trong phân tích ngữ nghĩa của ngôn ngữ và ngữ nghĩa của lời nói, trong phân tić h câu đ ồng nghiã , mệnh đề đồng nghĩa.
Vì thế, xét ở một khía cạnh nào đó, các nghiên cứu này cũng chỉ có thể được áp dụng cho việc xử lí một bộ phận hữu hạn các đơn vị từ vựng trái nghĩa có tính chân trị lưỡng phân, phủ định nhau tuyệt đối như đã nói, chứ không thể được dùng để nhận diện và mô tả toàn bộ các đơn vị từ vựng trái nghĩa thực trong tiếng Việt. Chẳng hạn, trong Lô gích của ngôn ngữ tự nhiên, Hoàng Phê cho rằng: Kém và bằng có cùng một cấu trúc ngữ nghĩa và đây là một hiện tượng đẳng cấu ngữ nghĩa khá lí thú. Kém đẳng cấu ngữ nghĩa với bằng cho nên không kém cũng có loại hàm ý giống như không bằng: kém = không bằng, không kém = bằng. Bằng và kém làm thành một cặp trái nghĩa (từ “đảo nghĩa”) khá đặc biệt: trái nghĩa trên cơ sở có cùng một tiền giả 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định, và tiền giả định này, nói theo lô gích, là một tuyển: hoặc dưới mức, hoặc ngang mức.
Nếu dưới mức thì gọi là kém, còn nếu ngang mức thì gọi là bằng. Trên cơ sở tiền giả định chung đó, bằng trái nghĩa với kém và đồng nghĩa với không kém. Nhưng nói bằng là nói trực tiếp bằng hiển ngôn, còn nói không kém là nói gián tiếp bằng hàm ngôn, cho nên, cũng có một sự khác nhau tế nhị về sắc thái nghĩa. Không nói bằng mà nói không kém, thì thường là có hàm cái ý muốn nói “không phải là dưới mức”, “không phải là không bằng được”, như người ta có thể nghĩ [43].
Trên thực tế, bên cạnh việc sử dụng tiêu chí phủ định khi tiếp cận từ trái nghĩa, triết học và lô gích học còn sử dụng tới một phép toán đặc biệt khác là phép toán suy ra, mà cụ thể là suy ra đối xứng. Tuy nhiên, nếu nhìn rộng ra ta còn thấy những từ trái nghĩa còn có mô ̣t khả năng suy ra khác mà chúng tôi đ ề xuất gọi là suy ra phi đối xứng hay suy ra mô ̣t chi ều. Phép toán suy ra mô ̣t chi ều đươ ̣c áp du ̣ng đ ể nhận diện một cặp từ trái nghĩa xét trong mối quan hê ̣ v ới mô ̣t từ thứ ba. Có hai khu vực quan hê ̣ ngữ nghĩa quan trọng liên quan đến từ trái nghĩa thường có thể áp du ̣ng tiêu chí suy ra phi đối xứng là quan hê ̣ thu ộc nghiã (hyponymy) và quan hê ̣ thu ộc tính (attribute).
Ta nói đến quan hê ̣ thuộc nghiã trước.