Chương 1: TINH HÌNH NGHIÊN CỨU DIA CHẤT KHU VỰC VÀ CÁC THÀNH TẠO CÁT BÁC TRUNG BỘ Các thành tạo cát là những thực thể địa chất phổ biến trên bề mat Trái Đất, chúng được thành tạo ở nhiều nơi trong môi trường nước (sông, biển.) môi trường không khí (sa mạc) v. Đối với con người, cát có vai trò rất quan trọng - là tài nguyên giá trị lớn chứa sa khoáng, vật liệu xây dựng,.Với vai trò quan trọng và phổ biến như vậy, từ lâu các thành tạo cát đã trở thành đối tượng dược nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Trên thế giới, ngay từ những năm 80 - 90 của thế kỷ 19, nhiều nhà nghiên cứu đã chú trọng, quan tâm về cát và cát kết, trong đó đáng kể có các nhà nghiên cứu A. Đầu thế kỷ 20 có các công trình nghiên cứu về khoáng vật nặng trong cát kết của Toridon (1928), nghiên cứu sự chứa dầu của cát của H.Vatan (người Pháp, 1937), nghiên cứu về cát sông Mississipi của Russell R.D (1937), nghiên cứu khoáng vật nang của Berthois L.Brajnikor (người Phap,1944), nghiên cứu về cát Eocen và phương pháp phân tích độ hạt của Bietlot (Bi,1940), nghiên cứu cát biển và cát vũng vịnh của A.Cailleux (người Pháp,1943), nghiên cứu cát vũng vịnh và cát dun của Shepard F.
(1961), nghiên cứu nhiều mặt về cát (đặc điểm, phân loại, phương pháp nghiên cứu. Các thành tạo cát có mặt suốt dọc bờ biển, trong đó ở đải ven biển Miễn Trung cát phân bố với diện rộng và khối lượng lớn - một "thực thể dia chất" bề mặt đặc trưng cho khu vực có vai trò to lớn đối với môi trường tự nhiên và thế giới sinh vật tại đây. Ở Bac Trung Bộ (xem hình 1.1), đã có nhiều nghiên cứu về điều kiện tu nhiên nói chung đạt kết quả tốt, có thể làm cơ sở cho các nghiên cứu chuyên sâu hoặc sử dụng, khai thác của con người trong hiện tại và tương lai. Có thể khái quát tình hình nghiên cứu địa chất khu vực nói chung và thành tạo cát nói riêng khu vực ven biển Bắc Trung Bộ như sau: 14 29 0 we 110° 10 114 0 24 24 TRUNG QUỐC TT —= ts^ “A :| Máng cát S ` sia i Hai Phong 20 | 20 0| é - # THÁI LAN & 16 | i + 0| Qui Nhơn » oO Nha Trang + 12 | 12 ⁄ 8 0| © Côn Son 102 106 110 114 QO 100 200 300km — Hình 1.1: So đồ vi trí khu Vực nghiên cứ u 15 1.
GIAI DOAN TRUGC 1954 Nhìn chung, tro ng thờ i gia n này , mứ c độ ngh iên cứu địa cha t Mi ền Tru ng nói chung và các thành tạo cát khu vực nói riêng còn sơ sài, chủ yếu dưới dang điều tra điều kiệ n tự nhi ên và do ngư ời Phá p thự c hiệ n. Tro ng thờ i gia n này , đán g kể có các công trình điều tra, nghiên cứu sau: Nă m 191 8, Cha sig nen k, sau đó Leb ret on (19 34) đã tiến hàn h ngh iên cứu sự thành tạo đồng bằng và hình thành các đụn cát ven biển miền Trung. Các tác giả này đều gộp các trầm tích bở rời vào tuổi Thứ tư không phân chia (Q). Hoffet tiến hành thành lập tờ bản đồ Huế (tỷ lệ 1/500.000) từ Quảng Bình đến Thừa Thiên-Huế.
Tronng tờ bản đồ này, trầm tích kỷ Thứ tư được chia làm 3 loại: phù sa cổ (a,) tương ứng tuổi Pleistocen phân bố ở trung tâm dải đồng bằng, các đụn cát (a;) phân bố ở dải Hải Lăng, Hồ Xá thuộc Quảng Trị và phù sa mới (a;) gồm các thành tạo cát màu vàng phân bố tạo thành các cồn cát dọc bờ biển từ Quảng Bình vào Thừa Thiên - Huế.Bourret tiến hành nghiên cứu về cấu trúc địa chất - kiến tạo vùng Huế - Quảng Ngãi. Từ những năm 20 (thế kỷ XX), nhiều nghiên cứu điều tra tổng hợp địa chất tờ Mahaxay - Đồng Hới được tiến hành với các công trình của C. Fromaget (1927), sau đó các tài liệu này được Fromaget (1937) và Fontaine (1971) sử dụng để thành lập các tờ ban đồ địa chất tỉ lệ nhỏ hơn.Fromaget chủ trì công trình điều tra tổng hợp về địa chất tờ Hà Tĩnh - Kỳ Anh; tài liệu này được sử dụng lập các tờ bản đồ tỷ lệ nhỏ hơn (Fromaget, 1952 và Fontaine, 1971). Từ 1945 đến 1954, do chiến tranh, nghiên cứu địa chất bị hạn chế, trong đó có một số công trình mang tính tổng hợp các tài liệu đã có trước đó, chẳng hạn công trình lập bản đồ Dia chất Dong Dương do J.Fromaget chủ trì (1952).
Các nghiên cứu thời gian trước 1954 tuy còn sơ lược, nặng về điều tra điều kiện tự nhiên, nhưng chúng có một vai trò khá quan trọng - làm cơ sở tiền dé cho nhiều nghiên cứu sau này. GIAI DOAN 1954 - 1975 Trong gia i đoạ n này có côn g trì nh chỉ nh lý Bản đồ Địa chấ t Mi ễn Bac (1/500.000) đượ c tiến hàn h từ nhữ ng nă m đầu của thậ p kỷ 60 (th ế ký XX ) với nhiều tài liệu bổ sung mới (Dovjikov A.F chủ biên, xuất bản năm 1963). Ngoài ra, có một số côn g trìn h tổn g hợp tài liệu trư ớc về địa chấ t, kiế n tạo vùn g Hu ế - Quả ng Ngãi do các nhà khoa học Liên Xô cũ tiến hành như Poxtelnikov. (1964) và một số Bản đồ Địa chất tỷ lệ trung bình và nhỏ tuy còn sơ lược, nhưng đã xác lập được những nét cơ bản về cấu trúc kiến tạo của khu vực.P đã đề cập tới động lực hình thành và phát triển của hệ thống cồn cát ở Quảng Bình và cho nguồn cung cấp cát là do sông Hồng.C nghiên cứu về khoáng vật nặng trong cát ở khu vực Huế.
Năm 1974, Trần Kim Thạch thành lập Bản đồ Địa chất Miền Nam Việt Nam (tỷ lệ 1/500.000) trên cơ sở phân tích ảnh viễn thám. Từ năm 1968 đến 1975, một số tác giả người Úc đã nghiên cứu về cát trắng Miền Nam. Năm 1972, Hoàng Thị Thân tiến hành nghiên cứu về sét Miền Trung. Ngoài ra, trong thời gian này còn có một số bài báo liên quan đến vôi ở Huế, sa khoáng Vĩnh Mỹ và nước khoáng Thanh Tân, các tài liệu này được đề cập trong Việt Nam Địa chất khoá lục.
GIAI DOAN 1975 - NAY 1. Những nghiên cứu mang tính chất đề tài, đề án: Từ 1974 đến 1978, công trình bản đồ địa chất và khoáng sản tờ Hà Tĩnh - Kỳ Anh (tỷ lệ 1/200.000) được thành lập (Trần Tính chủ biên), sau đó được hiệu đính vào năm 1992 -1993 (Nguyễn Văn Hoành, Vũ Ngọc Hải và Pham Văn Man chủ trì). Trong tờ bản đồ này, các thành tạo cát ven biển được xếp vào trầm tích nguồn gốc biển - gió, tuổi Holocen muộn (mv Q,°) có độ cao phân bố 5 - 20m. Từ 1975 - 1984: trong công trình Bản đồ Địa chất (tỷ lệ 1/500.000) phần Miền Nam (Trần Đức Lương và Nguyễn Xuân Bao chủ trì) đã phân chia khá chỉ tiết các thành tạo địa chất khu vực (làm cơ sở cho việc thành lập các tờ bản đồ liên tỉnh).
nhưng các trầm tích Đệ Tứ còn phân chia sơ lược (hầu như chưa có tài liệu lỗ khoan). 17 Năm 197 7, Ng uy ễn Xu ân Dư ơn g và nn k thự c hiệ n côn g trì nh Đị a chấ t và Kh oá ng sả n tờ Lệ Th uỷ - Qu an g Trị (ty lệ 1/ 20 0. 1979 -1983, Ng uy ễn Qu an g Tru ng chủ biê n thà nh lập tờ Bả n đồ Đị a chấ t và Khoáng sản Ma ha xa y - Đồ ng Hới (tỷ lệ1 /20 0. Bả n đồ này dượ c hiệ u dín h năm 199 2 -19 93 và xuấ t ban nă m 199 6, tro ng đó đã xác lập các thà nh tao cát ven biển là trầm tích biển - gió có tuổi Holocen muộn.
Năm 1981, các tác giả công trình Bản đồ Khoáng sản Việt Nam (ty lệ 1/500.000, Lê Văn Trảo và Trần Phú Thành chủ biên) đã khái quát đặc điểm địa chất và tiềm năng khoáng sản khu vực. 1984 -1987, Bùi Văn Nghĩa chủ trì công trình nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và lich sử phát triển các tring Kainozoi ở Bình - Trị - Thiên, đã phân chia các tram tích Neogen (N/), Pliocen - Pleistocen (N, - Q,), Pleistocen (Q,**) và Hococen (Q;'”, Q¿ và Q,’). Năm 1985, các tờ Bản đồ Địa chất (tỷ lệ 1/200.000) từ Lệ Thuỷ đến Quảng Trị, Huế và Quảng Ngãi (Nguyễn Văn Trang chủ biên) được thực hiện và thành lập. Trong các công trình này, trầm tích Kainozoi được phân chia trên cơ sở tài liệu lỗ khoan, trong đó các thành tạo Dé Tứ được xếp vào hệ tầng Da Nang (mQ,’ dn), hệ tầng Nam Ô (mQ,!?no), thành tạo Holocen (Q;!?, Q;3) và điệp Huế (amQ, h, điệp này được chia khá nhỏ).
Năm 1993, Viện Địa lý, Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia thực hiện đề tài "Mô hình phát triển đất trồng trọt vùng cát" (KT.13) do Lê Đức An chủ trì. Trong đề tài này, các tác giả để cập chủ yếu đến lớp cát bề mặt và hướng phát triển cây trồng tại đây. Năm 1994, Nguyễn Đức Tâm và Đỗ Tuyết chủ trì hoàn thành công trình bản đồ Địa chất Đệ Tứ Việt Nam (tỷ lệ 1/50.000), trong đó các tác giả đã hệ thống và mô tả các thành tạo Đệ Tứ ở Việt Nam đồng thời cũng phác họa sơ bộ nguồn gốc điều kiện thành tao của chúng. Trong 2 năm 1994 -1995, Bùi Công Quế và nnk (Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia) thực hiện đề án "Điều tra, đánh giá hiện trạng các cồn cát Mien Trung.
Theo dõi, dự báo cát xâm lấn, kiến nghị giải pháp giảm nhẹ hậu quả 18 do cát xâm lấn gây ra" , tro ng đó chủ yếu đề cập đến cát bề mặt và tín h lin h độ ng của chúng. Từ nă m 199 4 đến 199 7, Vũ Mạ nh Điể n chủ biê n thà nh lập Bản đồ Địa chấ t và Khoáng sản (tỷ lệ 1/50.000) nhóm tờ Hướng Hoá. Năm 1997, các Bản đồ Địa chất và Khoáng sản (tỷ lệ 1/50.000) được thành lập: nhóm tờ Huế (Phạm Huy Thông và nnk), nhóm tờ Dong Hà - Đồng Hới (Hồ Vương Bính và nnk). 1999, Ngô Quang Toàn và nnk hoàn thành công trình "Vo phong hóa va tram tích Đệ Tứ Việt Nam” 1999 - 2000, Viện Địa chất tiến hành nghiên cứu đánh giá các loại hình tai biến địa chất lãnh thổ Việt Nam và các giải pháp phòng tránh.