Nghiên cứu đặc điểm trầm tích trên cơ sở địa chấn nông phân giải cao khu vực bán đảo Đồ Sơn

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm trầm tích khu vực bán đảo Đồ Sơn phục vụ xây dựng công trình biển với địa chấn nông phân giải cao.

Chuyên ngành

Địa chất học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

100
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

1.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ

1.2. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH, ĐỊA MẠO

1.3. ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU

1.4. ĐẶC ĐIỂM THỦY VĂN, HẢI VĂN

1.4.1. Đặc điểm thủy văn

1.4.2. Đặc điểm hải văn

1.5. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT

1.5.1. Trước Đệ tứ

1.6. ĐẶC ĐIỂM KIẾN TẠO

2. CHƯƠNG 2: LỊCH SỬ, CƠ SỞ TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

2.1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

2.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

2.2. CƠ SỞ TÀI LIỆU

2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu hiện trường

2.3.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu trong phòng

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM TRẦM TÍCH ĐỆ TỨ KHU VỰC BÁN ĐẢO ĐỒ SƠN

3.1. ĐỘ SÂU VÀ BỀ DÀY TRẦM TÍCH ĐỆ TỨ KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.2. ĐẶC ĐIỂM TRƯỜNG SÓNG VÀ TRẦM TÍCH ĐỆ TỨ KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.2.1. Đặc điểm trường sóng khu vực nghiên cứu

3.3. Đặc điểm trầm tích đệ tứ khu vực nghiên cứu

3.3.1. Giai đoạn Pleistocen sớm (Q11)

3.3.2. Giai đoạn Pleistocen giữa (Q12)

3.3.3. Giai đoạn Pleistocen muộn (Q13b)

3.3.4. Giai đoạn Holocen sớm – giữa (Q21-2)

3.3.5. Giai đoạn Holocen muộn (Q23)

3.4. MỐI TƯƠNG QUAN TRẦM TÍCH ĐỆ TỨ VỚI PHÂN LOẠI ĐẤT TRONG ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH

4. CHƯƠNG 4: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH VÀ GIẢI PHÁP XỬ LÝ PHỤC VỤ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH BIỂN KHU VỰC BÁN ĐẢO ĐỒ SƠN

4.1. HIỆN TRẠNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH BIỂN KHU VỰC BÁN ĐẢO ĐỒ SƠN

4.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH TRONG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH BIỂN

4.2.1. Phân loại cấp độ đất

4.2.2. Đánh giá đặc điểm trầm tích khu vực bán đảo Đồ Sơn

4.2.3. Một số vấn đề địa chất công trình

4.3. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU PHỤC VỤ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH BIỂN

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu trầm tích khu vực bán đảo Đồ Sơn

Nghiên cứu trầm tích khu vực bán đảo Đồ Sơn là một chủ đề quan trọng trong lĩnh vực địa chất học, đặc biệt là trong bối cảnh xây dựng công trình biển. Bán đảo Đồ Sơn, với vị trí địa lý đặc biệt và điều kiện tự nhiên phong phú, đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Việc hiểu rõ đặc điểm trầm tích không chỉ giúp đánh giá tình hình địa chất mà còn hỗ trợ trong việc thiết kế và thi công các công trình biển. Đặc biệt, nghiên cứu này sẽ cung cấp thông tin cần thiết để xử lý các vấn đề liên quan đến nền đất yếu, một trong những thách thức lớn trong xây dựng công trình tại khu vực này.

1.1. Đặc điểm địa chất khu vực bán đảo Đồ Sơn

Khu vực bán đảo Đồ Sơn có cấu trúc địa chất phức tạp với nhiều loại trầm tích khác nhau. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng, trầm tích ở đây chủ yếu là các lớp đất yếu, có ảnh hưởng lớn đến khả năng chịu tải của nền đất. Việc phân tích các đặc điểm này là cần thiết để đưa ra các giải pháp xây dựng hiệu quả.

1.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu trầm tích trong xây dựng công trình biển

Nghiên cứu trầm tích không chỉ giúp xác định các đặc điểm địa chất mà còn cung cấp thông tin quan trọng cho việc thiết kế và thi công các công trình biển. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh gia tăng nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng ven biển, nơi mà các yếu tố địa chất có thể gây ra nhiều rủi ro.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu trầm tích khu vực Đồ Sơn

Mặc dù có nhiều nghiên cứu đã được thực hiện, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc khảo sát và đánh giá trầm tích khu vực Đồ Sơn. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự hiện diện của các lớp đất yếu, gây khó khăn trong việc xây dựng và bảo trì các công trình. Ngoài ra, việc thiếu hụt tài liệu khảo sát địa chất công trình cũng là một trở ngại lớn. Các tai biến địa chất như lún, xói lở và vỡ đê đã xảy ra thường xuyên, gây thiệt hại lớn về kinh tế và ảnh hưởng đến an toàn của các công trình.

2.1. Các vấn đề địa chất công trình tại Đồ Sơn

Địa chất công trình tại Đồ Sơn gặp nhiều vấn đề như lún nền đất, xói lở bờ biển và sự xuất hiện của các lớp đất yếu. Những vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến an toàn của các công trình mà còn gây khó khăn trong việc thiết kế và thi công.

2.2. Tác động của biến đổi khí hậu đến trầm tích khu vực

Biến đổi khí hậu đang gây ra nhiều tác động tiêu cực đến khu vực Đồ Sơn, đặc biệt là sự gia tăng của mực nước biển và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Những thay đổi này có thể làm gia tăng tình trạng xói lở và lún nền đất, đe dọa đến các công trình xây dựng.

III. Phương pháp nghiên cứu trầm tích khu vực Đồ Sơn hiệu quả

Để nghiên cứu trầm tích khu vực Đồ Sơn một cách hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp hiện đại như địa chấn nông phân giải cao kết hợp với khảo sát địa chất công trình. Phương pháp này cho phép thu thập dữ liệu chính xác về cấu trúc địa chất và đặc điểm trầm tích, từ đó đưa ra các giải pháp xử lý nền đất yếu phù hợp. Việc kết hợp giữa khảo sát trên cạn và dưới biển cũng là một yếu tố quan trọng trong nghiên cứu này.

3.1. Phương pháp địa chấn nông phân giải cao

Phương pháp địa chấn nông phân giải cao cho phép xác định cấu trúc địa chất một cách chi tiết, giúp phát hiện các lớp trầm tích và đặc điểm của chúng. Đây là một công cụ hữu ích trong việc đánh giá tình hình địa chất khu vực Đồ Sơn.

3.2. Khảo sát địa chất công trình trên cạn và dưới biển

Khảo sát địa chất công trình cần được thực hiện cả trên cạn và dưới biển để có cái nhìn toàn diện về tình hình trầm tích. Việc này giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng chịu tải của nền đất và đưa ra các giải pháp xử lý hiệu quả.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu trầm tích tại Đồ Sơn

Nghiên cứu trầm tích khu vực Đồ Sơn không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn trong xây dựng công trình biển. Các kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng để thiết kế các công trình bền vững, giảm thiểu rủi ro và chi phí xây dựng. Ngoài ra, việc hiểu rõ đặc điểm trầm tích cũng giúp các nhà đầu tư và nhà thầu đưa ra các quyết định chính xác hơn trong quá trình thi công.

4.1. Thiết kế công trình biển bền vững

Các kết quả nghiên cứu về trầm tích có thể được sử dụng để thiết kế các công trình biển bền vững, đảm bảo an toàn và hiệu quả trong quá trình sử dụng. Việc này giúp giảm thiểu rủi ro và chi phí bảo trì trong tương lai.

4.2. Giải pháp xử lý nền đất yếu

Nghiên cứu cũng đề xuất các giải pháp xử lý nền đất yếu, giúp cải thiện khả năng chịu tải của nền đất và giảm thiểu các tai biến địa chất. Các giải pháp này có thể bao gồm việc gia cố nền đất, sử dụng vật liệu xây dựng phù hợp và áp dụng các công nghệ hiện đại.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu trầm tích Đồ Sơn

Nghiên cứu trầm tích khu vực bán đảo Đồ Sơn là một lĩnh vực quan trọng, góp phần vào sự phát triển bền vững của cơ sở hạ tầng ven biển. Các kết quả nghiên cứu không chỉ giúp hiểu rõ hơn về đặc điểm địa chất mà còn cung cấp thông tin cần thiết cho việc thiết kế và thi công các công trình biển. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về trầm tích khu vực này, đặc biệt là trong bối cảnh biến đổi khí hậu và sự gia tăng nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng.

5.1. Hướng nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực trầm tích

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về các đặc điểm trầm tích và mối quan hệ của chúng với địa chất công trình. Việc này sẽ giúp cải thiện các phương pháp khảo sát và xử lý nền đất yếu, từ đó nâng cao hiệu quả xây dựng.

5.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu trong bối cảnh biến đổi khí hậu

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, việc nghiên cứu trầm tích khu vực Đồ Sơn càng trở nên quan trọng hơn. Cần có các giải pháp ứng phó kịp thời để giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu đến các công trình xây dựng.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu đặc điểm trầm tích trên cơ sở địa chấn nông phân giải cao khu vực bán đảo đồ sơn phục vụ xây dựng công trình biển

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu Chƣơng 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Chƣơng 2. Lịch sử, cơ sở tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Đặc điểm trầm tích khu vực bán đảo Đồ Sơn Chƣơng 4.

Một số vấn đề địa chất công trình và giải pháp xử lý phục vụ xây dựng công trình biển khu vực bán đảo Đồ Sơn Kết luận và kiến nghị 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ Bán đảo Đồ Sơn nằm cách trung tâm thành phố Hải Phòng 22,0 km về phía Đông Nam với tổng diện tích đất tự nhiên là: 4.248,07 ha và 22,5 km bờ biển. Phía Tây và Tây Bắc giáp quận Dƣơng Kinh, huyện Kiến Thụy Phía Nam và phía Đông giáp vùng biển vịnh Bắc Bộ Phía Đông Bắc giáp với cửa sông Lạch Tray và huyện đảo Cát Hải Phía Tây Nam giáp với cửa sông Văn Úc Hình 1. Sơ đồ vị trí các lỗ khoan và các tuyến địa chấn khu vực nghiên cứu Với ƣu thế về vị trí địa lý, bán đảo Đồ Sơn có nét đặc trƣng riêng so với các quận, huyện khác trong thành phố Hải Phòng, có vai trò quan trọng trong chiến lƣợc phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng khu vực Bắc Bộ nói chung và thành phố Hải Phòng nói riêng.

4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH, ĐỊA MẠO Đồ Sơn là vùng đất quy tụ tƣơng đối đầy đủ các loại địa hình cơ bản: đồi, đồng bằng, bờ và đáy biển. Toàn bộ địa hình cơ bản trên lại đƣợc phân bố trong một không gian lục địa - biển - đảo. Do vậy, địa hình Đồ Sơn khá phong phú về kiểu loại, đa dạng về nguồn gốc [8].

Địa hình đồi của Đồ Sơn cao không quá 130 m, chia thành ba bậc: Bậc trên cùng cao 80 ÷ 127 m gồm các đỉnh Vạn Hƣơng, Ngọc Xuyên, Chòi Mòng, Đồ Sơn, liên kết với nhau thành dãy kéo dài theo phƣơng tây bắc - đông nam, có lẽ đƣợc hình thành và nâng cao từ cuối Đêvôn - đầu Pleistocene. Bề mặt thứ hai cao 40 ÷ 70 m gồm các đỉnh Ba Đì, Nà Hầu, Bến Tầu, Ba Phúc, kéo dài thành dãy theo phƣơng tây bắc - đông nam và Hòn Dáu, có lẽ đƣợc hình thành và nâng cao vào Pleistocene giữa. Bề mặt thứ ba cao 20 ÷ 30 m gồm các đỉnh Núi Độc, Đỉnh Vung, Bến Thốc có lẽ đƣợc nâng cao vào đầu Pleistocene muộn. Sƣờn và chân các đồi núi phổ biến các vách mài mòn cũ của sóng các thềm biển tích tụ, tích tụ mài mòn hoặc mài mòn có độ cao khác nhau.

Địa hình đồi cấu tạo chủ yếu bằng các đá trầm tích hệ tầng Đồ Sơn rất rắn chắc. Đỉnh dạng vòm tƣơng đối bằng phẳng, đƣờng chia nƣớc không rõ, sƣờn thẳng hoặc hơi lồi, đƣờng nét trơn tru, thƣờng dốc 15 ÷ 20o. Trên các đỉnh và sƣờn đồi, nƣớc mƣa đã bóc mòn, rửa trôi các sản phẩm phong hoá và vận chuyển dần xuống dƣới chân đồi, tạo nên dải tích tụ hẹp ven các chân đồi. Địa hình nguồn gốc hỗn hợp biển sông, trong đó sông và bồi tích sông đóng vai trò chủ đạo, gồm hầu hết đồng bằng phía trong đê biển, trừ các đê cát ở Ngọc Hải, đƣợc bồi tụ trong thời gian khoảng 2.

Đồng bằng Đồ Sơn khá bằng phẳng, độ cao trung bình 1,0 ÷ 1,2 m, hầu hết đất đang còn chua mặn, trừ vùng ven chân đồi và các dải cồn cát ở Vạn Sơn, Ngọc Xuyên. Địa hình có hƣớng chung thấp dần về phía đông, đông nam, độ nghiêng bề mặt đồng bằng rất nhỏ, <30', những nơi sát chân đồi và cồn cát cổ, góc dốc bề mặt tăng lên 1 ÷ 2o. Bề mặt địa hình có tính tƣơng phản rõ với các địa hình đồi núi xung quanh và với sự có mặt của các đê cát cổ, chạy dài thành tuyến theo hƣớng tây bắc - đông nam. Đồng bằng cồn bãi hình thành khoảng 7 thế kỷ trƣớc, nằm sát biển ở đông nam khu vực, thuộc 4 xã Tú Sơn, Đoàn Xá, Đại Hợp, Bàng La.

Đồng bằng cao 2 ÷ 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 m, gồm 2 dãy với nhiều cồn nằm phân cách nhau qua các lạch trũng thấp, trong đó có cửa Đại Bàng, một cửa lạch lớn giữa địa phận hai xã Bàng La và Đại Hợp. Đồng bằng nguồn gốc vụng biển (lagoon) nằm ở Đông Bắc khu vực, thuộc một số xã nhƣ Tân Phong, Đại Đồng, Anh Dũng, Hợp Đức. và khu kinh tế mới đƣờng 14. Vụng biển đƣợc hình thành và bồi lấp kể từ khi có các cồn bãi chắn ngoài.

Hiện đây là nơi trũng thấp chua mặn nhất Hải Phòng, độ cao bề mặt chỉ 0,5 ÷ 0,8 m. Trầm tích bề mặt chủ yếu là bột sét và cát bột màu vàng nâu. Dƣới bề mặt 30 ÷ 40 cm có lớp sét dẻo quánh, xám xanh, có chỗ chứa vô số thân xác thực vật ngập mặn. Đồng bằng nguồn gốc hỗn hợp đầm lầy - biển phân bố hạn chế ở phía bắc thị xã, nơi vốn là một vùng biển cổ bị lấp đầy trong khoảng 700 ÷ 1.

Độ cao bề mặt đồng bằng thƣờng 0,5 ÷ 0,8 m. Trầm tích cấu tạo bề mặt đồng bằng là bột sét, cát bột màu xám, xám nâu dẻo quánh. Nằm sâu dƣới bề mặt 20 ÷ 40 cm thƣờng bắt gặp lớp sét bột hoặc cát bột màu xám xanh dẻo quánh chứa nhiều di tích thân rễ thực vật ngập mặn và các hợp chất lƣu huỳnh ở dạng khử. Địa hình tích tụ do sóng gồm các bậc thềm biển tích tụ - mài mòn phân bố ở các độ cao khác nhau, tuổi thềm càng lớn thì thềm phân bố càng cao.

Thềm bậc III cao 10 ÷ 15 m, đá gốc thƣờng nằm dƣới mặt thềm một vài mét. Ở tây bắc núi Nà Hầu, thềm có dạng yên ngựa, dài 200 ÷ 300 m, rộng 100 ÷ 150 m, cấu tạo từ cuội, sỏi cát, bột màu nâu vàng, gắn kết yếu. Các chỗ khác thềm hẹp, chỉ rộng vài chục mét, cấu tạo từ cát thạch anh màu xám trắng. Thềm bậc II cao 4 ÷ 6 m, có thể đƣợc cấu tạo từ cát trắng, xám vàng chứa vỏ sò ốc hoặc từ cuội sạn sỏi tạo thành các dải hẹp, ngắn ven các cung bờ lõm của đồi núi, dƣới chân núi Ngọc Xuyên, Đồ Sơn, Ba Đì, Bến Sét, hoặc nằm trên các yên ngựa giữa các đỉnh đồi thấp kế nhau.

Diện tích các mảng thềm có thể rộng tới 10 ha (khu II Đồ Sơn). Mặt thềm thƣờng có lớp phủ mỏng cuội, sỏi, sạn cát nằm trên nền đá gốc, một vài nơi tảng đá gốc nhô cao trên bề mặt thềm. Thềm bậc I cao 3 ÷ 3,5 m, là bậc thềm trẻ nhất và còn đang đƣợc bảo tồn khá tốt, cấu tạo bề mặt là cát hạt nhỏ màu vàng xám đôi chỗ lẫn vỏ sinh vật biển. Thƣờng gặp những mảng thềm rộng từ vài mét tới 200 ÷ 300 m, dài vài trăm mét nằm kế sát các vách sóng cũ.

Một số nơi thềm có dạng hỗn hợp tích tụ - mài mòn, cấu tạo từ các vật liệu hạt thô nhƣ cuội, sỏi, đá gốc nổi cao trên mặt. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đê cát ở Ngọc Hải cao 3,5 ÷ 4 m, rộng từ 50 m đến vài trăm mét, dài một vài km. Lớp cát nhỏ nằm trên dày 50 ÷ 80 cm, màu xám, có độ mài mòn tròn, chọn lọc tốt, lớp cát nằm dƣới có màu vàng, dày 200 ÷ 250 m, chứa nhiều vỏ sò ốc biển, dƣới 300 m là lớp bùn màu nâu. Đê cát ở Bàng La chỉ cao 2 ÷ 2,5 m hình thành sau đê cát Ngọc Hải trong cơ chế biển lùi, vào giai đoạn phát triển đồng bằng tam giác châu Bắc Bộ mở rộng tới Yên Lập.

Địa hình bờ biển và bờ đảo Đồ Sơn gồm hai kiểu đặc trƣng: Kiểu bờ tích tụ, thấp, bằng phẳng bao gồm các đoạn bờ cát, bờ bùn đƣợc trải rộng, nghiêng thoải ra phía biển. Bãi cát biển đƣợc cấu tạo bởi cát lục nguyên hạt nhỏ màu xám độ chọn lọc tốt. Cát của bãi tắm I và II có thành phần độ hạt tƣơng đối đồng nhất, cát của bãi III có thành phần phức tạp hơn gồm nhiều cấp hạt, độ phân tuyển cũng kém hơn bãi I và II. Kiểu tích tụ - mài mòn với những vách xâm thực dốc đứng cao một vài chục mét nhô ra biển, nằm xen kẽ với các cung lõm tích tụ, phân bố chủ yếu trên đoạn bờ của bán đảo Đồ Sơn và đảo Hòn Dáu.

Dƣới chân các vách dốc đứng là các bãi đá tảng, cuội, rộng khoảng trăm mét khi thuỷ triều hạ thấp nhất, nghiêng thoải về phía biển. Theo nguyên tắc nguồn gốc hình thái, bờ biển ở khu vực đƣợc phân thành kiểu ứng với ba đoạn sau: Đoạn phía bắc bán đảo thuộc kiểu bờ thuỷ triều - rừng ngập mặn, nằm trong phạm vi vùng cửa sông hình phễu Bạch Đằng, đƣờng bờ bị chia cắt phức tạp và lõm lùi đáng kể về phía lục địa trong vòng 5 ÷ 7 thế kỷ qua. Đoạn bờ ở khu bán đảo Đồ Sơn thuộc kiểu tích tụ - mài mòn do sóng, phổ biến các thềm biển bãi biển, các vách mài mòn do sông. Bờ đang phát triển theo hƣớng mài mòn các mũi nhô, bồi tụ các bãi ở các cung lõm để đạt tới cân bằng trắc diện dọc.

Đoạn ở phía tây nam bán đảo Đồ Sơn từ cửa Họng tới cửa Văn Úc thuộc kiểu bờ châu thổ nhƣng tốc độ bồi lấn ra biển chậm. Hiện nay, đoạn bờ này đang bị xói lở mạnh dù đƣờng 0 m hải đồ vẫn tiến ra phía biển. Địa hình tích tụ do thuỷ triều gồm: Bãi biển cao ngoài đê quốc gia, cao 0 ÷ 0,5 m, khá bằng phẳng, bề mặt đƣợc phủ một lớp trầm tích sét bột màu nâu xám, chỉ bị ngập khi thuỷ triều từ trung bình đến cực đại, thực vật ngập mặn phát triển tốt. Bãi triều thấp: cao trung bình (-) 0,5 ÷ 1,1 m, khá bằng phẳng, thƣờng xuyên ngập triều, trừ khi triều rút thấp, hoàn toàn vắng bóng thực vật ngập mặn.

7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Địa hình tích tụ hỗn hợp triều - sóng và hải lƣu ven bờ gồm: Tích tụ bờ ngầm, từ độ sâu 6 m trở vào, do sóng bị biến dạng mạnh khi ma sát với đáy. Vật liệu trầm tích từ các cửa sông đƣa ra đƣợc dòng triều và các dòng chảy ven bờ phát tán ra xa cửa sông và lan toả vào ven biển. Bề rộng của bờ ngầm tới 6 ÷ 7 km. Vật liệu tích tụ của bờ ngầm chủ yếu là cát bột, bùn bột màu nâu hồng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ