Luận án tiến sĩ hóa học nghiên cứu tổng hợp một số pheromone côn trùng dạng alcohol chứa nhóm methyl liền kề và z alken 1 ol

Luận án tiến sĩ hóa học nghiên cứu tổng hợp pheromone côn trùng dạng alcohol chứa nhóm methyl liền kề và z alken 1 ol, ứng dụng trong kiểm soát sinh học.

Chuyên ngành

Hóa hữu cơ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ hóa học

2023

146
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: Giới thiệu về pheromone

1.1. Định nghĩa pheromone

1.2. Đặc điểm và phân loại pheromone

1.3. Các dạng cấu trúc pheromone thường gặp

1.4. Giới thiệu một số pheromone côn trùng ở Việt Nam

1.4.1. Bọ hà khoai lang

1.4.2. Sâu keo mùa thu

1.5. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

1.6. Tổng hợp một số hợp chất racemic của các alcohol bậc 2 chứa nhóm thế methyl liền kề

1.7. Tổng hợp các hợp chất chứa một nối đôi (Z)-alken-1-ol

1.8. Nội dung nghiên cứu

1.8.1. Tổng hợp và thử nghiệm các alcohol bậc 2 chứa nhóm thế methyl liền kề theo quy tắc Cram và xác định cấu trúc (tỷ lệ đồng phân cấu hình threo : erythro) bằng phổ NMR

1.8.2. Tổng hợp một số pheromone côn trùng (Z)-alken-1-ol, ester của các (Z)-alken-1-ol và thử nghiệm chọn lọc trên đồng ruộng

1.9. Phương pháp nghiên cứu

1.9.1. Phương pháp xác định cấu trúc

1.9.2. Phương pháp xác định các hằng số vật lý

1.9.3. Phương pháp tổng hợp các alcohol bậc 2 chứa nhóm thế methyl liền kề theo quy tắc Cram

1.9.4. Phương pháp tổng hợp pheromone dạng (Z)-alken-1-ol và ester của nó

1.9.5. Hóa chất và thiết bị

1.9.6. Tinh chế các chất

1.9.7. Quy trình tổng hợp các chất

2. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

2.1. Tổng hợp pheromone của các alcohol bậc 2 chứa nhóm thế methyl liền kề

2.1.1. Kết quả tổng hợp pheromone của các alcohol bậc 2 chứa nhóm thế methyl liền kề bằng phản ứng Grignard theo quy tắc Cram và đánh giá tỷ lệ đồng phân cấu hình threo : erythro trong sản phẩm của các alcohol (a) và (b)

2.1.2. Phản ứng oxi hóa alcohol bậc 2 chứa nhóm thế methyl liền kề thành ketone

2.1.3. Hoàn nguyên các ketone (1c-15c) bằng LiAlH4/ether

2.1.4. Tổng hợp các pheromone (Z)-alken-1-ol và ester

2.1.5. Kết quả tổng hợp n-bromoalkan-1-ol từ các diol

2.1.6. Phương pháp khử alkyne thành (Z)-alkene mà không sử dụng hydrogen phân tử

2.2. Thử nghiệm sinh học

2.2.1. Kết quả thử nghiệm các pheromone alcohol bậc 2 chứa nhóm thế methyl liền kề

2.2.2. Kết quả thử nghiệm với các pheromone dạng (Z)-alken-1-ol

3. KẾT LUẬN

4. KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về pheromone

Pheromone là hợp chất hóa học tự nhiên, đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp giữa các cá thể cùng loài. Được định nghĩa lần đầu bởi Karlson và Luscher năm 1959, pheromone là chất dẫn dụ, kích thích phản ứng đặc trưng ở côn trùng và động vật. Pheromone tồn tại dưới dạng chất lỏng dễ bay hơi, phụ thuộc vào điều kiện môi trường như nhiệt độ và tốc độ gió. Chúng được phân loại thành năm nhóm chính: pheromone ức chế, pheromone phóng thích, pheromone giới tính, pheromone đánh dấu và pheromone báo động. Mỗi nhóm có chức năng riêng, từ điều chỉnh hành vi đến kiểm soát sinh sản.

1.1 Định nghĩa pheromone

Pheromone được định nghĩa là chất hóa học tự nhiên, được tiết ra từ một cá thể và truyền đến cá thể khác cùng loài, gây ra phản ứng cụ thể. Thuật ngữ này bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp, kết hợp 'pherein' (mang) và 'hormon' (kích thích). Pheromone đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp và điều chỉnh hành vi của côn trùng, đặc biệt trong việc tìm kiếm bạn tình và đánh dấu lãnh thổ.

1.2 Đặc điểm và phân loại pheromone

Pheromone có đặc điểm dễ bay hơi, phụ thuộc vào điều kiện môi trường. Chúng được phân loại thành năm nhóm chính: pheromone ức chế, pheromone phóng thích, pheromone giới tính, pheromone đánh dấu và pheromone báo động. Mỗi nhóm có chức năng riêng, từ điều chỉnh hành vi đến kiểm soát sinh sản. Pheromone giới tính có khả năng khuếch tán xa nhất, trong khi pheromone đánh dấu có độ khuếch tán kém hơn.

II. Tổng hợp pheromone côn trùng

Nghiên cứu tập trung vào tổng hợp pheromone côn trùng dạng alcohol chứa nhóm methyl liền kề(Z)-alken-1-ol. Phương pháp tổng hợp bao gồm sử dụng phản ứng Grignard để tạo ra các alcohol bậc 2 và oxi hóa chúng thành ketone. Quá trình này giúp xác định tỷ lệ đồng phân cấu hình threo : erythro. Ngoài ra, nghiên cứu cũng đề xuất phương pháp tổng hợp pheromone dạng (Z)-alken-1-ol từ các alkyne, sử dụng hệ xúc tác palladium mà không cần hydrogen phân tử.

2.1 Tổng hợp alcohol bậc 2 chứa nhóm methyl liền kề

Phương pháp tổng hợp alcohol bậc 2 chứa nhóm methyl liền kề dựa trên phản ứng Grignard giữa aldehyde và tác chất Grignard. Kết quả cho thấy sự hiện diện của đồng phân cấu hình threo : erythro. Quá trình oxi hóa bằng IBX chuyển đổi alcohol thành ketone, loại bỏ đồng phân cấu hình. Hoàn nguyên ketone bằng LiAlH4 khôi phục lại đồng phân cấu hình ban đầu.

2.2 Tổng hợp pheromone dạng Z alken 1 ol

Phương pháp tổng hợp pheromone dạng (Z)-alken-1-ol từ alkyne sử dụng hệ xúc tác palladium (Pd(OAc)2/KOH/DMF, Pd(dba)2/KOH/DMF) mà không cần hydrogen phân tử. Phương pháp này đơn giản, hiệu quả, giúp tạo ra lượng lớn pheromone phục vụ cho bẫy bắt côn trùng.

III. Ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu đã thử nghiệm hoạt tính sinh học của các pheromone tổng hợp trên đồng ruộng. Kết quả cho thấy khả năng dẫn dụ côn trùng hiệu quả, đặc biệt là pheromone giới tính của bọ hà khoai lang và đuông dừa. Phương pháp tổng hợp và thử nghiệm này mở ra hướng ứng dụng mới trong kiểm soát côn trùng gây hại, giảm thiểu tác động môi trường so với các biện pháp hóa học truyền thống.

3.1 Thử nghiệm hoạt tính sinh học

Các pheromone tổng hợp được thử nghiệm trên đồng ruộng để đánh giá khả năng dẫn dụ côn trùng. Kết quả cho thấy hiệu quả cao trong việc bẫy bắt bọ hà khoai lang và đuông dừa. Các hợp chất có tỷ lệ đồng phân cấu hình threo : erythro tối ưu cho hiệu quả dẫn dụ tốt hơn.

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu đóng góp phương pháp tổng hợp pheromone hiệu quả, giúp kiểm soát côn trùng gây hại mà không gây mất cân bằng sinh thái. Phương pháp này giảm thiểu chi phí và tác động môi trường so với các biện pháp hóa học truyền thống.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài: Ở Việt Nam, người ta diệt côn trùng và sâu hại cây trồng thường dùng các biện pháp hóa học như phun thuốc, bả độc đối với loài mối, hoặc bắt thủ công như bọ dừa. Tuy nhiên, các giải pháp trên vẫn thiếu tính bền vững và ổn định lâu dài. Để khắc phục những hạn chế trên thì biện pháp sử dụng pheromone và chất dẫn dụ côn trùng là một biện pháp có nhiều ưu thế đồng thời hạn chế được hầu hết các tác hại và nhược điểm của các biện pháp trên mà không gây mất cân bằng sinh thái. Qua đó có thể kiểm soát được mật độ mối gây hại hiệu quả trên một diện tích rộng.

Trong đó, nhiều nhóm pheromone côn trùng gây hại cây trồng trên thế giới cũng như ở Việt Nam tồn tại dưới dạng racemic của alcohol bậc 2 chứa nhóm thế methyl liền kề và dẫn xuất trên nền alkenol. Chính vì vậy, đề tài: “Nghiên cứu tổng hợp một số pheromone côn trùng dạng alcohol chứa nhóm methyl liền kề và (Z)- alken-1-ol”. Tính cấp thiết đề tài: Nhóm pheromone côn trùng dạng racemic của alcohol bậc 2 chứa nhóm thế methyl được ưu tiên sử dụng trong bẫy bắt côn trùng vì chi phí sản xuất chúng thường thấp và phương pháp tổng hợp đơn giản hơn các hợp chất quang hoạt. Mặc dù vậy sẽ còn rất nhiều vấn đề phải nghiên cứu để góp phần ứng dụng hiệu quả các racemic alcohol bậc 2 chứa nhóm thế methyl liền kề vào việc bẫy bắt côn trùng.

Trong quá trình nghiên cứu trước đây khi tổng hợp ()-4-methyl-5- nonanol là pheromone tập hợp của Đuông dừa Rhynchophorus ferrugineus tại Việt Nam đã cho thấy xuất hiện hiện tượng đồng phân cấu hình threo : erythro trong sản phẩm. Tương tự ()-4-methyl-5-nonanol, nếu các racemic của alcohol bậc 2 chứa nhóm thế methyl liền kề khác đều tồn tại đồng phân cấu hình threo : erythro trong hợp chất thì tỷ lệ hai đồng phân cấu hình đó sẽ là bao nhiêu và nên sử dụng tác chất Grignard, aldehyde nào thì cho được tỷ lệ cấu hình threo : erythro tối ưu để bẫy côn trùng hiệu quả. Do đó, đây là một vấn đề mới cần phải nghiên cứu và giải đáp vì chưa có công trình nào công bố trên các tạp chí trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, đối với các pheromone có cấu trúc là đồng phân hình học, đặc biệt là đồng phân (Z) thì những phương pháp tổng hợp có độ chọn lọc cao, đơn giản và tiện lợi luôn được ưu tiên lựa chọn.

Con đường tổng hợp các dẫn xuất (Z)-alken-1-ol từ các 1-alkyne với hệ xúc tác thích hợp mà không cần sử dụng hydrogen phân tử như: Pd(OAc)2/KOH/DMF, Pd(dba)2/KOH/DMF, PdNPsPEG/KOH/DMF và PdNPs@pectin-KOH/DMF đã 9 đóng vai trò quyết định trong việc chuyển một hợp chất chứa nối ba thành nối đôi có cấu hình chọn lọc, kèm theo đó là những kỹ thuật đơn giản hơn, cho phép tạo ra một lượng pheromone đủ lớn phục vụ cho chế phẩm tạo mồi nhử trong bẫy bắt côn trùng lại vừa giảm chi phí. Đây cũng là một vấn đề mới khác sẽ được nghiên cứu trong đề tài. Mục tiêu đề tài: Tổng hợp cấu trúc một số pheromone côn trùng dạng alcohol chứa nhóm thế methyl liền kề và dạng (Z)-alken-1-ol. Sau đó, thử nghiệm hoạt tính sinh học một số cấu trúc pheromone thích hợp trên đồng ruộng.

Đóng góp mới của luận án: - Tổng hợp các racemic của alcohol bậc 2 chứa nhóm thế methyl liền kề. Chứng minh sự hiện diện và tỉ lệ của đồng phân cấu hình threo : erythro thông qua các bước: + Tổng hợp các alcohol bậc 2 chứa nhóm thế methyl liền kề từ các aldehyde chứa nhóm thế methyl dạng (CH3(CH2)mCH(CH3)CHO với m = 1, 2, 4) với tác chất Grignard không mang nhóm thế methyl dạng (CH3(CH2)nCH2MgBr với n = 1, 2, 3, 4, 5, 6) tương ứng với các alcohol (1a-15a) và các aldehyde không mang nhóm thế methyl dạng (CH3(CH2)nCH2CHO với n = 1, 2, 3, 4, 5, 6) với tác chất Grignard mang nhóm thế methyl dạng (CH3(CH2)mCH(MgBr)CH3 với m = 1, 2, 4) tương ứng với các alcohol (1b-15b). + Sử dụng IBX/CH3CN làm tác nhân oxi hóa thành công các alcohol (1a-15a) thành các ketone tương ứng (1c-15c). Qua đó, chứng minh sự biến mất của đồng phân cấu hình threo : erythro trong cấu trúc các ketone (1c-15c).

+ Hoàn nguyên các ketone (1c-15c) bằng LiAlH4/(C2H5)2O về dạng alcohol. Qua đó, chứng minh và giải thích sự xuất hiện lại đồng phân cấu hình threo : erythro trong các alcohol được hoàn nguyên. + Đánh giá cấu trúc và khảo sát tỷ lệ đồng phân cấu hình threo và erythro của các alcohol bậc 2 chứa nhóm thế methyl liền kề trong sản phẩm. - Xác định các cấu trúc hợp chất mới từ một số alcohol bậc 2 chứa nhóm thế methyl liền kề và các ketone tương ứng đã tổng hợp trên Scifinder.

- Tổng hợp pheromone côn trùng dạng (Z)-alken-1-ol: 10 + Tổng hợp thành công các n-bromoalkan-1-ol từ các diol với dung môi n-heptane thay thế benzene. + Sử dụng các hệ xúc tác: Pd(OAc)2/KOH/DMF, Pd(dba)2/KOH/DMF, PdNPsPEG/KOH/DMF và PdNPs@pectin/KOH/DMF khử hóa thành công các alkyne thành các (Z)-alkene mà không sử dụng hydrogen phân tử để tổng hợp một số pheromone dạng (Z)-alken-1-ol như: Pheromone giới tính bọ xít muỗi (Helopeltis theivora Waterhouse), pheromone giới tính của sâu tơ (Plutella xylostella), pheromone giới tính bọ hà khoai lang (Cylas formicarius) từ nguyên liệu ban đầu là các 1-alkyne và alkanediol. - Thử nghiệm hoạt tính sinh học: + Xác định các cấu trúc có khả năng dẫn dụ đuông dừa từ các alcohol bậc 2 chứa nhóm thế methyl liền kề và các ketone tương ứng đã tổng hợp. Trong đó, xác định các hợp chất có khả năng dẫn dụ đuông dừa tương đương tổ hợp pheromone đuông dừa đã biết là 4-methyl-5-nonanol (10a) và 4-methyl nonan-5-one (10c).

+ Đánh giá khả năng dẫn dụ đuông dừa của các cấu trúc có tỉ lệ đồng phân cấu hình threo : erythro khác nhau và xác định các cấu trúc có tiềm năng. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn - Về mặt học thuật, đối với tổng hợp một dãy các alcohol bậc 2 chứa nhóm thế methyl liền kề cho thấy sự thay đổi độ dài của mạch carbon không ảnh hưởng đến tỉ lệ các đồng phân erythro và threo (theo quy tắc Cram), điều này làm phong phú thêm kiến thức về tổng hợp các cấu trúc có tỉ lệ đồng phân cấu hình erythro và threo theo mong muốn. Bên cạnh đó, kết quả luận án còn đóng góp một phương pháp hiệu quả để tổng hợp các cấu trúc dạng (Z)-alken-1-ol từ các alkyne khi sử dụng các hệ xúc tác dưới dạng palladium trong DMF và KOH mà không sử dụng hydrogen phân tử. - Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ sự ảnh hưởng của các gốc alkyl đến tỉ lệ các đồng phân threo và erythro trong các tổng hợp các alcohol bậc 2 chứa nhóm thế methyl liền kề, đồng thời kết quả luận án cho thấy được với tỉ lệ đồng phân cấu hình threo và erythro như thế nào thì hiệu quả dẫn dụ côn trùng tốt hơn trên đồng ruộng.

Trong khi đó, phương pháp sử dụng các hệ xúc tác palladium còn đóng góp một hướng nghiên cứu hiệu quả để tổng hợp các cấu trúc dạng (Z)-alken-1-ol từ các alkyne mà không sử dụng hydrogen phân tử đặc biệt trong tổng hợp pheromone. Giới thiệu về pheromone 1. Định nghĩa pheromone Trước khi thuật ngữ “pheromone” ra đời thì các nhà nghiên cứu khoa học đã cho ra rất nhiều thuật ngữ khác nhau để định nghĩa cho các loại hợp chất này. Tuy nhiên nó chưa thể hiện được đầy đủ nhất về bản chất và giá trị của nó.

Đến năm 1959, thuật ngữ “pheromone” (chất dẫn dụ) được Karlson & Luscher sử dụng lần đầu tiên và nó bắt nguồn từ các Hy Lạp kết hợp lại giữa “pherein” (φερω) “hormon” (ὁρμων) có nghĩa là chất mang sự kích thích [1, 2]. Theo định nghĩa của Karlson và Luscher thì pheromone là một hợp chất hóa học tự nhiên được tìm thấy trong các loài côn trùng, động vật và kể cả con người. Nó là tín hiệu hóa học giữa các cá thể trong cùng một loài. Cụ thể nó là những chất dễ bay hơi được tiết từ một cá thể ra môi trường bên ngoài và nhờ tác động của không khí mà nó được truyền đến cá thể thứ hai khác giới cùng loài tiếp nhận gây nên những phản ứng chuyên biệt đáp lại [2].

Mô tả phương thức giao tiếp của hai cá thể cùng loài 1. Đặc điểm và phân loại pheromone 1. Đặc điểm Trong điều kiện tự nhiên, pheromone là một chất lỏng dễ bay hơi, nhờ vào tác động của môi trường mà tốc độ bay hơi và khuếch tán phụ thuộc vào tốc độ gió (không khí) hay nước. Pheromone bị phân hủy càng nhanh nếu nhiệt độ càng cao, nó chỉ tồn tại ở một giới hạn nhiệt độ nhất định trong môi trường tự nhiên.

Pheromone sinh dục là loại pheromone có khả năng khuếch tán xa nhất (tối đa 1 km) và pheromone đánh dấu đường đi có độ khuếch tán kém nhất [3]. Phân loại pheromone 12 Pheromone được phân loại thành năm nhóm dựa vào những đặc tính tồn tại và tính chất tác động lên sinh lý, hành vi của côn trùng ngoài tự nhiên. Bao gồm: pheromone ức chế (primer pheromone), pheromone phóng thích (releaser pheromone), pheromone giới tính (sex pheromone), pheromone đánh dấu (trail pheromone), pheromone báo động (alarm pheromone) [4]. Nhóm pheromone ức chế (primer pheromone) Sử dụng chủ yếu ở các loài côn trùng mang tập tính xã hội với mục đích là để ngăn chặn sự sản sinh của cá thể cùng loài như kiến, ong (thuộc bộ cánh màng Hymenoptera).

Chúng sẽ kích hoạt làm thay đổi hoạt động sinh lý có xu hướng theo chiều chậm lại ở cá thể nhận được, không có bất kỳ sự phản ứng nào về hành vi ngay tại thời điểm đó. Chúng tiếp nhận tín hiệu thông qua cảm giác (vị giác). Nhóm pheromone này không tìm thấy ở bộ cánh vảy (Lepidoptera) [5]. Nhóm pheromone phóng thích (releaser pheromone) Các pheromone thuộc nhóm này được mô tả rất nhiều.

Khi một cá thể nhận được tín hiệu hóa học của cá thể khác tiết ra trong cùng loài, ngay lập tức tạo ra sự thay đổi trong hành vi của cá thể nhận được. Chúng tiếp nhận tín hiệu thông qua cơ quan khứu giác (mùi) trực tiếp truyền đến hệ thống thần kinh trung ương và sửa đổi hành vi của cá thể đó. Nhóm pheromone này tiếp tục được chia nhỏ thành các loại khác nhau [4, 5]. Pheromone giới tính (sex pheromone) Đây là loại pheromone thường được tiết ra môi trường từ một cá thể thu hút các cá thể khác giới trong cùng loài từ xa với mục đích hấp dẫn sự giao phối, thường là một chất hoặc hỗn hợp của nhiều chất hóa học.

Chất này có thể tiết ra từ cả hai giới tính nhưng thường phổ biến ở cá thể cái.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu tổng hợp pheromone côn trùng dạng alcohol chứa nhóm methyl và z-alken-1-ol" cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc tổng hợp và ứng dụng pheromone trong quản lý côn trùng. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ cấu trúc hóa học của các hợp chất pheromone mà còn chỉ ra tiềm năng của chúng trong việc kiểm soát côn trùng gây hại, từ đó giúp nâng cao hiệu quả trong nông nghiệp và bảo vệ môi trường. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách thức hoạt động của pheromone và lợi ích của việc sử dụng chúng thay thế cho hóa chất độc hại.

Để mở rộng thêm kiến thức về các lĩnh vực liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước giếng khu vực phía đông vùng kinh tế Dung Quất huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi, nơi nghiên cứu về chất lượng nước có thể ảnh hưởng đến môi trường sống của côn trùng. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ khoa học xác định mức độ ô nhiễm các hợp chất hydrocarbons thơm đa vòng PAHs trong trà cà phê tại Việt Nam và đánh giá rủi ro đến sức khỏe con người cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động của ô nhiễm môi trường đến sức khỏe và sinh thái. Cuối cùng, tài liệu Luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng sẽ cung cấp những giải pháp hữu ích trong nghiên cứu và ứng dụng khoa học, bao gồm cả lĩnh vực sinh học và hóa học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến môi trường và sức khỏe.