Luận Văn Thạc Sĩ Về Nghiên Cứu Tổng Hợp Hợp Chất Imidazole4thione Và Các Dẫn Xuất

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu kỹ thuật hóa học nghiên cứu tổng hợp hợp chất imidazole4thione và các dẫn xuất bằng phương pháp mới, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất

Trường đại học

Đại học Bách Khoa - ĐHQG - HCM

Chuyên ngành

Kỹ Thuật Hóa Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

99
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hợp chất imidazole 4 thione trong hóa học

Hợp chất imidazole-4-thione và các dẫn xuất của nó đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu trong lĩnh vực kỹ thuật hóa học. Chúng được biết đến với tính chất sinh học và dược lý cao, có khả năng ức chế sự phát triển của virus và điều trị nhiều bệnh lý khác nhau. Việc tổng hợp các hợp chất này thông qua các phương pháp mới đang trở thành một xu hướng quan trọng trong nghiên cứu hóa học hiện đại.

1.1. Đặc điểm và ứng dụng của imidazole 4 thione

Hợp chất imidazole-4-thione có nhiều ứng dụng trong y học, đặc biệt là trong việc điều trị bệnh tăng huyết áp và suy tim. Các dẫn xuất của nó cũng được sử dụng như chất xúc tác trong nhiều phản ứng hóa học.

1.2. Tính chất hóa học của imidazole 4 thione

Tính chất hóa học của imidazole-4-thione rất đa dạng, bao gồm khả năng tạo liên kết với các nguyên tố khác, điều này làm cho nó trở thành một hợp chất lý tưởng trong tổng hợp hóa học hữu cơ.

II. Thách thức trong tổng hợp hợp chất imidazole 4 thione

Mặc dù có nhiều phương pháp tổng hợp imidazole-4-thione, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức. Việc sử dụng các tác chất độc hại, điều kiện phản ứng khắc nghiệt và hiệu suất thấp là những vấn đề chính cần được giải quyết. Những hạn chế này đã làm giảm khả năng ứng dụng của các hợp chất này trong thực tiễn.

2.1. Vấn đề về tác chất độc hại trong tổng hợp

Nhiều phương pháp tổng hợp hiện tại sử dụng các tác chất độc hại, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người và môi trường. Việc tìm kiếm các phương pháp an toàn hơn là rất cần thiết.

2.2. Điều kiện phản ứng khó khăn

Các điều kiện phản ứng như nhiệt độ cao và thời gian dài thường làm giảm hiệu suất tổng hợp. Điều này đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải phát triển các phương pháp mới hiệu quả hơn.

III. Phương pháp tổng hợp imidazole 4 thione hiệu quả

Một phương pháp mới đã được phát triển để tổng hợp imidazole-4-thione thông qua phản ứng ba thành phần giữa aryl methyl ketones, lưu huỳnh và ammonium acetate. Phương pháp này không chỉ đơn giản mà còn hiệu quả, giúp tăng cao hiệu suất sản phẩm.

3.1. Quy trình tổng hợp ba thành phần

Quy trình tổng hợp này sử dụng aryl methyl ketones, lưu huỳnh và ammonium acetate trong môi trường DMSO, cho phép tạo ra sản phẩm trong thời gian ngắn mà không cần kim loại hay chất xúc tác.

3.2. Khảo sát điều kiện phản ứng

Các điều kiện phản ứng như nhiệt độ, nguồn cung cấp nitơ và lượng dung môi đã được khảo sát kỹ lưỡng để tối ưu hóa quy trình tổng hợp, từ đó nâng cao hiệu suất sản phẩm.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả từ nghiên cứu cho thấy phương pháp tổng hợp mới này không chỉ hiệu quả mà còn mở ra nhiều cơ hội ứng dụng trong lĩnh vực dược phẩm. Các dẫn xuất của imidazole-4-thione có thể được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ y học đến công nghiệp hóa chất.

4.1. Hiệu suất sản phẩm đạt được

Phương pháp mới cho phép đạt được hiệu suất sản phẩm cao, với nhiều dẫn xuất khác nhau của imidazole-4-thione được tổng hợp thành công.

4.2. Ứng dụng trong ngành dược phẩm

Các dẫn xuất của imidazole-4-thione đã cho thấy tiềm năng lớn trong việc phát triển thuốc mới, đặc biệt là trong điều trị các bệnh lý nghiêm trọng.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu tổng hợp imidazole-4-thione và các dẫn xuất của nó mở ra nhiều triển vọng cho các nghiên cứu tiếp theo. Việc phát triển các phương pháp tổng hợp an toàn và hiệu quả hơn sẽ là mục tiêu chính trong tương lai.

5.1. Tương lai của nghiên cứu imidazole 4 thione

Các nghiên cứu tiếp theo sẽ tập trung vào việc cải thiện hiệu suất và an toàn trong tổng hợp imidazole-4-thione, từ đó mở rộng ứng dụng của chúng trong thực tiễn.

5.2. Định hướng phát triển công nghệ tổng hợp

Định hướng phát triển công nghệ tổng hợp mới sẽ giúp tối ưu hóa quy trình sản xuất, giảm thiểu tác động đến môi trường và nâng cao hiệu quả kinh tế.

05/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Lưu huỳnh trong tổng hợp hóa hữu cơ 1. Sử dụng lưu huỳnh tạo khung cấu trúc Các hợp chất hữu cơ chứa lưu huỳnh đóng vai trò quan trọng trong hóa dược và vật liệu chức năng nên việc đưa lưu huỳnh vào khung cấu trúc của các hợp chất hữu cơ được chú trọng trong những năm gần đây. Một số công trình tiêu biểu được liệt kê trong chương này.

Năm 2017, nhóm nghiên cứu của Deng và các cộng sự đã tổng hợp thành công các dẫn xuất của 2-aryl benzothiazole và 2-arylnaphtho[2,1-d] thiazoles đi từ amine thơm, dẫn xuất benzaldehyde, và lưu huỳnh nguyên tố (hình 1. Việc hoạt hóa liên kết C– H ortho với nhóm NH2 và quá trình oxi hóa tạo vòng được thực hiện trong điều kiện không có kim loại chuyển tiếp và dùng NH4I hoặc KI làm xúc tác, DMSO hoặc O2 làm chất oxi hóa. Hiệu suất sản phẩm thu được có thể lên đến 99%. Việc thử nghiệm các nhóm thế cũng cho kết quả tốt, không phụ thuộc nhiều vào bản chất điện tử hoặc bản chất không gian đặt lên nhân thơm của các nguyên liệu.

Tổng hợp 2-arylbenzothiazole và 2-arylnaphtho[2,1-d] thiazole. Nhóm nghiên cứu của giáo sư Nguyễn Thanh Bình đã thực hiện tổng hợp thioaurones bằng cách sử dụng lưu huỳnh và 2-nitrochalcones thông qua việc hoạt hóa liên kết C–H bằng phản ứng thế ái nhân thơm với nhóm tách loại là NO2 [2]. Phản ứng được thực hiện trong điều kiện êm dịu và không cần dùng kim loại chuyển tiếp. Ngoài ra, sản phẩm hình thành với hiệu suất cao khi có mặt của các amin bậc 3 (như triethyamine hoặc N- methylpiperidine) và DMSO ở nhiệt độ thường, ngay cả với nhóm thế nghèo điện tử (hình 1.

Phương pháp này là một đóng góp nổi bật cho nền hóa học xanh hiện nay. Sử dụng amin bậc ba / DMSO với lưu huỳnh thu được thioaurones từ 2′- nitrochalcones Nhóm tác giả cũng tìm ra rằng nếu thay đổi cách sắp xếp nhóm chức trong nguyên liệu, các dẫn xuất sultams có thể được tạo thành bằng cách tạo đồng thời ba liên kết S−N, C−S và S=O [3]. Các phản ứng xảy ra ở khoảng nhiệt độ 100-135 °C trong 16 giờ với sự có mặt của các base như 3-picoline hoặc N-methylmorpholine (hình 1. Nghiên cứu này cung cấp một phương pháp cho thấy khả năng tổng hợp các dẫn xuất sultams có nhiều ý nghĩa trong hóa dược bằng một phản ứng đơn giản, đạt hiệu suất chuyển hóa nguyên tử (atom economy) gần như tuyệt đối.

Tổng hợp sultams từ 2-nitrochalcones và lưu huỳnh. Các dẫn xuất đa vị trí thế của thiophene có vai trò quan trọng trong tổng hợp hữu cơ và hóa dược, tuy nhiên lại là một thách thức lớn với các phương pháp tổng hợp truyền thống. Nhóm nghiên cứu của tác giả Wang và cộng sự đã phát triển một phương pháp cho phép ngưng tụ/đóng vòng để tổng hợp các dẫn xuất thiophene 3 lần thế từ các acetaldehydes thơm, dẫn xuất 1,3-dicarbonyl và lưu huỳnh nguyên tố [4]. Các phản ứng sử dụng hỗn hợp base K2CO3/KHCO3 kết hợp với DMSO để cho sản phẩm có hiệu suất từ trung bình đến cao.

Hầu hết các nhóm thế được khảo sát cũng cho kết quả tốt. Việc thay thế 1,3-dicarbonyl bằng malononitrile cũng cho sản phẩm tương tự, một phần chứng tỏ quá trình ngưng tụ có xuất hiện giai đoạn aldol hóa (hình 1. Tổng hợp thiophene thế 3 lần tại các vị trí C2, C3, và C5. 2 Năm 2018, một phương pháp tổng hợp đơn giản và hiệu quả các dẫn xuất 2-aryl benzothiazole được phát triển thông qua phản ứng ba cấu tử giữa các dẫn xuất acetophenone, amine thơm và lưu huỳnh nguyên tố [5].

Bằng cách sử dung hỗn hợp I2/tetra-butylammonium iodide (TBAI), một lượng xúc tác DMSO và dung môi chlorobenzene ở 140 °C, C–H alpha với nhóm C=O bị oxi hóa, sau đó liên kết C–C bị cắt đứt (có thể đã giải phóng một phân tử CO2 trên một đơn vị cacbon alpha), đồng thời các liên kết C–N và C–S được hình thành để xây dựng cấu trúc benzothiazole (hình 1. Nhiều nhóm thế được tổng hợp với hiệu suất lên đến 81%, cung cấp hàng loạt các 2-aryl benzothiazole có tiềm năng lớn trong ứng dụng dược phẩm. Tổng hợp [5]từ acetophenone, aniline và lưu huỳnh. Các dẫn xuất 1,2-benzisothiazoles, một hợp chất đồng đẳng, có thể được tổng hợp từ các dẫn xuất amidines có nhóm thế halogen ở vị trí ortho, sử dụng lưu huỳnh nguyên tố [6].

Phản ứng diễn ra có thể bao gồm quá trình thế ái nhân, từ đó hình thành các liên kết N–S và C–S. Sử dụng các nguyên liệu đơn giản như base K3PO4 và loại bỏ sự cần thiết của kim loại chuyển tiếp là các điểm nổi bật của phản ứng này. Rất nhiều dẫn xuất mang các nhóm chức khác nhau được tổng hợp, và hiệu suất trong một số trường hợp có thể lên đến 97% (hình 1. Phản ứng có ý nghĩa to lớn trong ngành dược phẩm bằng cách chuyển đổi các hợp chất chứa lưu huỳnh thành các hợp chất hữu ích khác.

Tổng hợp dẫn xuất 1,2-benzisothiazole từ o-haloarylamidine và lưu huỳnh thông qua sự hình thành liên kết N-S / C-S trong điều kiện không có kim loại. Một nghiên cứu tương tự dựa trên cơ sở thế ái nhân lưu huỳnh vào nhân thơm có thể kể đến một công bố của Huang và cộng sự. Các tác giả đưa lưu huỳnh vào khung cấu trúc benzothiazole đi từ dẫn xuất o-iodoaniline và các N-tosylhydrazone [7]. Điều thú vị là 3 nhóm tác giả đã sử dụng một cách chọn lọc các nguyên tử carbon trên N-tosylhydrazone và các hệ xúc tác đi kèm dung môi khác nhau để xây dựng nhiều hệ carbon-cacbon hoặc cacbon dị tố.

Thông qua phản ứng đóng vòng [3 + 1 + 1] được thúc đẩy bằng xúc tác muối Cu, các dẫn xuất benzothiazole đã được tổng hợp thành công (hình 1. Cách thực hiện đơn giản, xúc tác kim loại rẻ tiền và tác chất phổ biến đã làm cho phản ứng này có nhiều tiềm năng hơn. Tổng hợp chọn lọc dẫn xuất thế C2 của benzothiazoles từ các dẫn xuất o‐iodoaniline, lưu huỳnh và các dẫn xuất N-tosylhydrazone. Năm 2018, Xu và cộng sự đã phát triển một phương pháp mới để tổng hợp các dẫn xuất thioamide thơm từ các alkyne thơm có nối ba giữa mạch, lưu huỳnh và amide [8].

Hàng loạt các nhóm chức được chứng minh là phù hợp với điều kiện phản ứng. Quá trình cắt đứt liên kết ba C–C được thúc đẩy bởi lưu huỳnh trong môi trường không có chất oxi hóa bên ngoài hay kim loại và thậm chí có thể thành công với nhiều loại alkynes thơm và acetamide không hoạt hóa (các nhóm thế R, R1, R2, và R3 có thể không cần là nhân thơm) (hình 1. Phản ứng sử dụng K3PO4 ở 115 °C trong môi trường không khí cho hiệu suất lên đến 93%. Sự cắt đứt liên kết ba C-C trong alkyne thơm với lưu huỳnh và amide thu được aryl thioamides.

Cùng năm, nhóm tác giả Huang và cộng sự đã phát triển phương pháp tổng hợp hệ đa vòng ngưng tụ thienothiazole hiệu quả từ các nguyên liệu oxime ester của dẫn xuất 4 acetophenone, các đồng đẳng aldehyde thơm và lưu huỳnh (hình 1. Sự hoạt hóa liên kết N–O của oxime xảy ra với sự có mặt của xúc tác đồng. Tổng hợp được các hợp chất có cấu trúc phức tạp, thực hiện quy trình phản ứng một giai đoạn (one-pot) và hiệu suất không bị giảm đáng kể khi thực hiện với quy mô lớn (5 mmol nguyên liệu aldehyde) là các điểm nổi bật của phương pháp này [9]. Tổng hợp hệ đa vòng ngưng tụ thienothiazole.

Lần đầu tiên, tác giả Xu và các cộng sự phương pháp tổng hợp dẫn xuất 1,2-dithiole-3-thione và hợp chất đồng đẳng được công bố từ một loạt các propargylamine có gắn nhân thơm ở đầu mạch với hiệu suất lên đến 88%. Bằng cách cắt đứt liên kết C−N đồng thời với sự hình thành các liên kết C−S, nhóm nghiên cứu đã cung cấp một hướng tiếp cận mới nhằm tổng hợp nhanh chóng các polysulfide. Sau đó nhóm nghiên cứu cũng thực hiện phản ứng thio hóa trên các dẫn xuất arylpropyne và dimethylformamide với sự có mặt của lưu huỳnh. Các propanethioamide thơm tương ứng được tổng hợp với hiệu suất khá cao trong điều kiện không có xúc tác đồng(I).

Phương pháp này có thể áp dụng với nhiều tác chất khác nhau với quy trình một giai đoạn (one-pot) trong thời gian 12 giờ (hình 1. Tuy nhiên, các nguyên liệu ban đầu không có sẵn và việc sử dụng formamide làm dung môi có thể phần nào hạn chế việc áp dụng phản ứng này. Chuyển hóa các propargylamine thơm. 5 Các thioamides cũng có thể được tổng hợp bằng cách kết hợp các dẫn xuất benzyl amine, lưu huỳnh, Na2CO3 và dung môi DMSO [11].

Phản ứng không sử dụng các xúc tác kim loại và quy trình tiến hành đơn giản giúp việc đa dạng hóa các hợp chất đơn giản như benzyl amine diễn ra nhanh chóng. Điều đặc biệt của thí nghiệm là bằng cách kiểm soát thời gian, tác giả có thể thu được thioamide trong khoảng thời gian ngắn ban đầu, một phần khẳng định cơ chế phản ứng là quá trình oxi hóa xảy ra dần thay đổi nhóm chức thioamide thành nhóm chức amide. Vai trò oxi hóa có thể là do lưu huỳnh nguyên tố hoặc sự kết hợp giữa lưu huỳnh và dung môi DMSO (Hình 1. Nhược điểm lớn nhất của phương pháp này là chỉ có thể tổng hợp các amide có hai nhóm thế vòng thơm giống nhau.

Phản ứng của benzylamine để tạo thành thioamide và amide. Gần đây, nhóm nghiên cứu của giáo sư Nguyễn Thanh Bình và cộng sự đã phát triển một phương pháp cho phép tổng hợp đồng thời nhóm chức amide và thioamide trên cùng một phân tử, ở các vị trí C1 và C3 (hình 1. Phản ứng giữa amine (2 đơn vị phân tử trên 1 phân tử sản phẩm), maleic anhydride (nguồn cung cấp 3 carbon), và lưu huỳnh nguyên tố với DMSO là chất oxi hóa ở 50 °C [12]. Phản ứng này cung cấp các dẫn xuất axit malonic với nhiều nhóm thế khác nhau.

Phản ứng đa thành phần này bao gồm các bước mở vòng, thioamid hóa và oxy hóa decarboxylative ở nhiệt độ thấp đến 50 °C. Phản ứng thực hiện đơn giản và khả năng đa dạng hóa cấu trúc sản phẩm là điểm đáng chú ý của phương pháp này. Tổng hợp một giai đoạn (one-pot) các dẫn xuất axit malonic từ maleic anhydride, lưu huỳnh nguyên tố, và amine. 6 Một phương pháp tương tự cho phép ngưng tụ ba cấu tử nhằm tổng hợp các dẫn xuất 2- amino-3-arylthiophene cũng được cùng nhóm tác giả công bố [13].

Phản ứng diễn ra sử dụng lưu huỳnh cùng với arylacetonitriles và các dẫn xuất chalcone thu được từ ngưng tụ aldol.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn thạc sĩ mang tiêu đề Luận Văn Thạc Sĩ Về Nghiên Cứu Tổng Hợp Hợp Chất Imidazole-4-Thione Và Các Dẫn Xuất của tác giả Bùi Thu Thủy, dưới sự hướng dẫn của GS. Phan Thanh Sơn Nam, được thực hiện tại Đại học Bách Khoa - ĐHQG - HCM vào năm 2020. Nghiên cứu này tập trung vào phương pháp tổng hợp hợp chất imidazole-4-thione và các dẫn xuất của nó, mở ra hướng đi mới trong lĩnh vực hóa học hữu cơ. Bài viết không chỉ trình bày quy trình tổng hợp mà còn phân tích các tính chất hóa học của các hợp chất này, từ đó giúp độc giả hiểu rõ hơn về ứng dụng của chúng trong công nghệ hóa học.

Để mở rộng kiến thức của bạn, bạn có thể tham khảo thêm các bài viết liên quan như Tính chất xúc tác quang của vật liệu composite TiO2 trên nền graphene và carbon nitride, nơi nghiên cứu về tính chất của các vật liệu composite trong các phản ứng hóa học. Bài viết Hoạt tính sinh học của hợp chất tử vi nấm biển tại miền Trung Việt Nam cũng là một nghiên cứu thú vị về các hợp chất tự nhiên và ứng dụng của chúng trong công nghệ sinh học. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu về Dầu sinh học omega 3 6 từ vi tảo Schizochytrium mangrovei TB17 và lợi ích cho sức khỏe, một nghiên cứu về dầu sinh học và lợi ích sức khỏe của các hợp chất tự nhiên. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc hơn về các ứng dụng của hợp chất trong lĩnh vực hóa học và sinh học.