MỞ ĐẦU Ở nước ta, nghề dệt đã có từ lâu đời. Trải qua nhiều khó khăn, cùng với sự phát triển của các ngành công nghiệp khác, công nghiệp dệt đang từng bước khẳng định tầm quan trọng trong đời sống hằng ngày. Các sản phẩm tạo ra ngày càng phong phú đa dạng, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Các loại vải sợi làm từ thiên nhiên hay hóa học đều tồn tại một lượng tạp chất nhất định, và sau khi dệt lại chứa thêm hồ, dầu mỡ từ máy dệt, ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình in nhuộm, sử dụng vải.
Vì vậy, trước khi in nhuộm, ta cần phải xử lý các tạp chất có trong vải sợi để quá trình in nhuộm được diễn ra thuận lợi. Vải sợi sau khi loại bỏ tạp chất, sẽ có độ trắng sáng, dễ thấm nước, mềm mại, không những thế còn tăng khả năng hấp thụ thuốc nhuộm giúp cho quá trình nhuộm màu được thuận lợi và vải sợi được đẹp. Trước đây, hầu hết các cơ sở dệt nhuộm đều sử dụng các chất tẩy rửa được bán trên thị trường hoặc sử dụng các biện pháp cơ học và các chất hóa học không thân thiện với môi trường. Cho đến ngày nay, với tiến bộ của khoa học kỹ thuật, các chất tẩy rửa liên tục được cải tiến theo hướng hiệu quả hơn và thân thiện với môi trường.
Một trong những khuynh hướng được sử dụng nhiều nhất là biến tình dầu thực vật thành các sản phẩm có hoạt tính bề mặt cao. Từ đó, tổng hợp chúng thành chất tẩy rửa có thành phần tối ưu, phù hợp với mục đích tẩy rửa nhất định. Đồ án này nghiên cứu quá trình tổng hợp chất tẩy rửa từ dầu thông hydrat hóa để xử lý dầu mỡ trên vải sợi. Sinh viên: Nguyễn Thị Phương Thảo – MSV: 1212301016 Trang 1 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP PHẦN I: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT A.
TỔNG QUAN VỀ CHẤT TẨY RỬA [1],[2] 1. Giới thiệu chung về chất tẩy rửa[1] Chất tẩy rửa là chất được dùng để làm tăng tác dụng tẩy sạch của nước với các chất bẩn có tính dầu (Không tan trong nước). Khi hòa tan trong nước, chất tẩy rửa làm giảm sức căng bề mặt giữa nước và các chất bẩn có tính dầu, nhờ đó làm cho chất bẩn dễ thấm ướt và dễ bị lôi kéo ra khỏi bề mặt dính bẩn, đi vào môi trường nước. Kết quả là bề mặt dính bẩn được tẩy rửa sạch.
Chất tẩy rửa là những chất hoạt động bề mặt – có thể là vô cơ hoặc hữu cơ. Các chất tẩy rửa thuộc loại vô cơ có thể là các chất có kiềm tính, các muối trung tính và các chất không tan trong nước như cao lanh, bentonit. Các chất tẩy rửa thuộc loại hữu cơ có thể chia ra loại cation, anion, lưỡng tính, có khả năng ion hóa, không có khả năng ion hóa, loại ít bọt, loại nhiều bọt… Xét về phạm vi, khả năng sử dụng, các chất tẩy rửa thuộc loại hữu cơ có tác dụng ưu việt hơn các chất tẩy rửa thuộc loại vô cơ. Chất tẩy rửa thông dụng là muối natri của axit béo (xà phòng) hoặc các chất hoạt động bề mặt tổng hợp có hoạt tính ion và phi ion như natri nauryl sulfat, natri dodexyl benzensulfonat, alkylamit… Để tăng hiệu quả tẩy rửa các chất hoạt động bề mặt, trong các chất tẩy rửa thương phẩm (kem giặt, bột giặt) người ta còn đưa thêm vào các chất phụ gia vô cơ như natri tripoliphotphat, natri sulfat, natri cacbonat… Theo xu thế hiện nay, để bảo vệ môi sinh, người ta thiên về sản xuất và sử dụng các chất tẩy rửa với các phụ gia dễ phân hủy sinh học, ít độc.
Chất hoạt động bề mặt[1] Chất hoạt động bề mặt là thành phần quan trọng nhất của chất tẩy rửa. Nó có mặt ở tất cả các chất tẩy rửa khác nhau với nhiệm vụ là tẩy đi các vết bẩn và những chất lơ lửng trong nước giặt để cho chúng không bám trở lại trên bề mặt. Sinh viên: Nguyễn Thị Phương Thảo – MSV: 1212301016 Trang 2 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Chất hoạt động bề mặt là hợp chất hóa học có sức căng bề mặt nhỏ hơn sức căng bề mặt của dung môi, và trong dung dịch, nồng độ của nó ở bề mặt cao hơn trong dung dịch, làm giảm sức căng bề mặt của dung dịch. Nếu có nhiều hơn hai chất lỏng không hòa tan thì chất hoạt động bề mặt làm tăng diện tích tiếp xúc giữa hai chất lỏng đó.
Khi hòa chất hoạt động bề mặt vào trong một chất lỏng thì các phân tử của chất hoạt động bề mặt có xu hướng tạo đám (gọi là mixen), nồng độ mà tại đó các phân tử bắt đầu tạo đám được gọi là nồng độ tạo đám giới hạn. Những chất hoạt động bề mặt quan trọng thường là những hợp chất hữu cơ gồm hai phần: Phần phân cực (phần ưa nước) và phần không phân cực (phần kị nước). Axit béo là chất hoạt động bề mặt gồm gốc hydrocacbon là phần không phân cực và nhóm cacboxyl là phần phân cực. Tính ưa, kỵ nước của một chất hoạt động bề mặt được đặc trưng bởi một thông số là độ cân bằng ưa kỵ nước (Hydrophilic Lipophilic Balance – HLB), giá trị này có thể từ 0 đến 40.
HLB càng cao thì hóa chất càng dễ hòa tan trong nước, HLB càng thấp thì hóa chất càng dễ hòa tan trong các dung môi không phân cực như dầu. Chất hoạt động bề mặt được sử dụng phổ biến trong công nghiệp, ví dụ trong việc chuyển quặng, điều chế các chất tẩy rửa… Tùy theo tính chất mà chất hoạt động bề mặt được phân theo các loại khác nhau. Nếu xét theo tính chất hoạt động của đầu phân cực của phân tử chất hoạt động bề mặt thì có thể phân chúng thành bốn loại sau: Chất hoạt động bề mặt cation. Chất hoạt động bề mặt anion.
Chất hoạt động bề mặt không ion. Chất hoạt động bề mặt lưỡng tính. Sinh viên: Nguyễn Thị Phương Thảo – MSV: 1212301016 Trang 3 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP a. Chất hoạt động bề mặt anion Chất hoạt động bề mặt mà khi hòa tan vào nước phân ly ra ion hoạt động bề mặt âm, chiếm phần lớn kích thước toàn bộ phân tử hay chính là mạch Hidrocacbon khá dài, và ion thứ hai không có tính hoạt động bề mặt.
Đó là chất hoạt động bề mặt anion. Có khả năng hoạt động bề mặt mạnh nhất so với các loại khác. Làm tác động tẩy rửa chính trong khi phối liệu. Khả năng lấy dầu cao.
Tạo bọt to nhưng kém bền. Bị thụ động hóa hay mất khả năng tẩy rửa trong nước cứng, nước cứng tạm thời, các ion kim loại nặng (Fe3+, Cu2+.) Chất hoạt động bề mặt anion rất đa dạng và từ rất lâu con người đã biết sử dụng trong công việc giặt giũ. Chia làm hai loại chính. Có nguồn gốc thiên nhiên: Đó chính là sản phẩm từ phản ứng xà phòng hóa của các estec axit béo với glyxerin (dầu cọ, dầu dừa, dầu nành, dầu lạc, dầu cao su.
mỡ heo, mỡ cừu, mỡ bò, mỡ hải cẩu, mỡ cá voi.) Có nguồn gốc từ dầu mỏ: Thông qua phản ứng ankyl hóa, sunfo hóa các dẫn xuất anlkyl, aryl, ankylbenzen sunfonic. Chất hoạt động bề mặt cation Chất hoạt động bề mặt cation được coi là chất đối nghịch với chất hoạt động bề mặt anion dựa trên mối quan hệ điện tích. Một lượng nhỏ chất hoạt động bê mặt cation thêm vào chất hoạt động bề mặt anion hay thậm chí là chất hoạt động bề mặt không ion có thể sẽ nâng cao việc thực hiện quá trình tẩy rửa. Các chất hoạt động bề mặt không ion cho phép sự có mặt của chất cation và hỗn hợp của hai loại này được sử dụng cho chất tẩy rửa đặc biệt là để làm mềm sợi vải.
Một số chất hoạt động bề mặt cation tiêu biểu như: Dialkyl dimetyl amino clorua (DADMAC), các imidazoli bậc bốn sử dụng như là các chất làm mền đậm đặc, alkyl dimetyl benzyl amino clorua (AMBAC). Chất hoạt động bề mặt không ion Sinh viên: Nguyễn Thị Phương Thảo – MSV: 1212301016 Trang 4 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Chất hoạt động bề mặt không ion là những chất hoạt động bề mặt hòa tan trong nước nhưng không bị phân ly thành ion. Đa số chúng là dẫn xuất của polietylenglycol có công thức tổng quát: R – O – (CH2 – CH2 – O)n – CH2 – CH2 – OH hoặc R – O – (CH2 – CH2 – O)n – OH R – COO – (CH2 – CH2 – O)n – CH2 – CH2 – OH Trong đó: Gốc R – ankyl là phần kỵ nước, còn gốc polietylenglycol là phần ưa nước tạo nên khả năng hòa tan của chất hoạt động bề mặt. Khi số nhóm – OH hoặc nhóm etylen oxit tăng lên thì khả năng hòa tan tăng lên, điều này cho phép tăng chiều dài mạch cacbon mà vẫn đảm bảo khả năng hòa tan trong nước của chất hoạt động bề mặt.
Dung dịch chất hoạt động bề mặt này thường tạo nên môi trường trung tính pH = 7, bền với nước cứng, axit, kiềm và kim loại. Đây là chất hoạt động bề mặt có chức năng đa dạng nhất nên được sử dụng rất rộng rãi trong các quá trình nấu tẩy, giặt, nhuộm – in hoa và hoàn tất cho nhiều loại vải sợi khác nhau. Chất hoạt động bề mặt lưỡng tính Chất hoạt động bề mặt lưỡng tính là chất hoạt động bề mặt mà trong phân tử của chúng có chứa cả nhóm axit và nhóm bazo: nhóm axit hoặc là cacbonxylic hoặc sulfonat, còn nhóm bazo thường là nhóm amin. Những chất này trong môi trường axit chúng phân ly như chất hoạt động bề mặt cation, còn trong môi trường kiềm chúng thể hiện chức năng của loại anion.
Chúng có ái lực với protein và cellulose đồng thời có ưu thế khi phối trộn với các chế phẩm có đặc tính anion. Các chất lưỡng tính tan trong nước nhưng tại điểm đẳng nhiệt tan là kém nhất. Chất hoạt động bề mặt loại này có tính tương hợp tốt với các chất hoạt động bề mặt loại khác. Khả năng hoạt động của các chất lưỡng tính thay đổi trong khoảng rộng và phụ thuộc vào khoảng cách giữa các nhóm mang điện, khả năng hoạt động bề mặt cao nhất là tại điểm đẳng nhiệt.
Sinh viên: Nguyễn Thị Phương Thảo – MSV: 1212301016 Trang 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Chất hoạt động bề mặt lưỡng tính rất thích hợp cho da nhờ đặc tính dầu nhẹ, ổn định, thường được dùng trong các sản phẩm chăm sóc cá nhân và một số sản phẩm làm sạch gia dụng. Một số chất hoạt động bề mặt lưỡng tính điển hình: Alkyl amido propyl betain Alkyl amido propyl sulfobetain Sulfonat betain Betain etoxy hóa Dodecyl betain Dodecyl dimethyllamine oxide Cocamidopropyl betain Coco ampho glycinate 3.