CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 1. Một số vấn đề lý luận về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ 1. Khái niệm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ Tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực, “gắn liền với sự xuất hiện của Nhà nước và pháp luật, cũng như kể từ ngay khi xã hội có sự phân chia thành giai cấp đối kháng” [10, tr. Tội phạm mang bản chất là một hiện tượng pháp lý.
Nói rõ hơn, tội phạm là hiện tượng tiêu cực mang thuộc tính xã hội - pháp lý với đặc tính là có sự chống đối lại đối với Nhà nước và xã hội, đi ngược lại lợi ích và giá trị chung của cộng đồng, làm phá vỡ trật tự xã hội, xâm phạm tới các quyền và lợi ích hợp pháp của con người. Tội phạm là chế định quan trọng trong khoa học luật hình sự. Về bản chất, chế định tội phạm đã thể hiện rõ nét các đặc điểm chính trị của xã hội cũng như những đặc điểm pháp lý của luật hình sự [9, tr. Thông qua đó, chúng ta nhận biết hành vi nào là tội phạm và không phải là tội phạm, trở thành nguyên tắc để phân biệt tội phạm và vi phạm pháp luật khác.
Pháp luật hình sự của Việt Nam đã khái quát tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến các khách thể được BLHS quy định và bảo vệ. Tuy nhiên, để đánh giá được tính nguy hiểm cho xã hội là vấn đề cần được làm sáng tỏ nếu không dễ rơi vào chủ quan, duy ý chí khi quy định tội phạm. Các tiêu chí để xác định tính nguy hiểm cho xã hội ở mức độ tội phạm gồm: Tính chất của các quan hệ xã hội bị xâm hại; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; tính chất và mức độ lỗi; các yếu tố đặc trưng cho hành vi phạm tội 8 luan an như thời gian, địa điểm, hoàn cảnh, công cụ phạm tội. Hơn nữa, trong BLHS nước ta còn đưa ra yếu tố nhân thân của người phạm tội, mà nhà lập pháp thường coi đó là một trong các yếu tố làm gia tăng về mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi.
Song, vấn đề này đang có sự không phù hợp với nguyên tắc một người không thể bị xử phạt hình sự về nhân thân xấu của họ. Tội phạm cũng được thể hiện qua các dấu hiệu, đó là: Năng lực trách nhiệm hình sự của những người thực hiện hành vi nguy hiểm xã hội- đây là đặc tính quan trọng cần làm rõ khi quy định khái niệm về tội phạm. Bởi năng lực trách nhiệm hình sự của con người, nó được thể hiện ở khả năng của con người thực hiện hành vi nguy hiểm xã hội (nhận thức và sự điểu khiển được hành vi của mình). Như vậy cho thấy, dù là gây thiệt hại cho quan hệ xã hội nào đó song nếu một khi người thực hiện hành vi nguy hiểm lại không nhận thức được hành vi, không điều khiển được hành vi thì coi như không phải là hành vi tội phạm.
Tính có lỗi: Tội phạm luôn là hành vi có lỗi. Dù vậy Bộ luật Hình sự có lúc xem các hành vi không có lỗi lại là tội phạm (tức là nguyên tắc quy tội khách quan: chỉ căn cứ vào hành vi mà buộc tội); trong khi đó tội phạm là kết quả tổng hợp của những yếu tố khách quan và chủ quan. Yếu tố khách quan là các hành vi, yếu tố chủ quan là lỗi. Lỗi vốn dĩ có một quá trình để hình thành nên kể từ khi phát sinh nhu cầu, động cơ, mục đích ý đồ, nhận thức về yếu tố khách quan và chủ quan của hành vi và sau cùng là đi đến lựa chọn và quyết định thực hiện hành vi phạm tội.
Như vậy, tội phạm được hiểu là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, có lỗi, do người có năng lực TNHS thực hiện xâm phạm đến mối quan hệ xã hội được luận hình sự bảo vệ (Điều 8 của BLHS). Tội phạm trong định nghĩa lập pháp được các nhà làm luật nước ta ghi nhận mới bao gồm bốn đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản. Nhìn một cách tổng quan chúng ta có thể thấy nội dung khái niệm của tội phạm trong luật hình sự 9 luan an dường như đã được quy định đầy đủ, khoa học và việc nhận thức nội dung này của khái niệm đã có sự thống nhất. Tuy nhiên, nếu nghiên cứu và phân tích một cách sâu sắc những đặc điểm cụ thể thuộc nội dung của khái niệm tội phạm cũng như xem xét mối liên hệ giữa chúng thì thấy rằng còn có điều cần phải bàn.
Cụ thể, theo GS.TSKH Lê Văn Cảm, khái niệm này còn thiếu một đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản là tội phạm do người đủ tuổi chịu TNHS thực hiện. Các dấu hiệu này cùng với những dấu hiệu cơ bản của tội phạm đã được những nhà lập pháp ghi nhận thì mới thể hiện căn bản trên 03 khía cạnh tương ứng với 5 dấu hiệu cơ bản của tội phạm, mà cụ thể đó là: 1) Khía cạnh khách quan với nội dung: tội phạm là hành vi nguy hiểm xã hội; 2) Khía cạnh chủ quan: tội phạm là hành vi do người có năng lực TNHS và đã có đủ tuổi chịu TNHS thực hiện có lỗi; 3) Khía cạnh pháp lý với hình thức: tội phạm là hành vi trái luật pháp hình sự [9, tr. Chúng tôi tán thành với quan điểm này, và nhấn mạnh thêm đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản thứ nhất - tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đồng thời phải xâm phạm đến các khách thể được luật hình sự xác lập và bảo vệ (đó là: chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm tới chế độ kinh tế, chế độ chính trị, nền an ninh, quốc phòng, văn hoá, TTATXH, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự, tự do, tính mạng, sức khoẻ, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm đến các lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN). Từ cơ sở này, tiếp cận khái niệm về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, xét về bản chất, là khái niệm về một tội phạm cụ thể, là sự cụ thể hóa khái niệm tội phạm nói trong lĩnh vực cụ thể là giao thông đường bộ và nhà làm luật đưa vào trong đó vạch giới hạn là các chủ thể tham gia vào quan hệ giao thông đường bộ đó.
Việc đặt ra vạch giới hạn này cần phải nói đến quy định BLHS năm 1999 khi nó chỉ dừng lại ở việc quy định 10 luan an “Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện GTĐB”. Theo đó, phạm vi điều chỉnh của điều luật trước kia (BLHS năm 1999) bị hẹp hơn, chỉ bao gồm các chủ thể điều khiển phương tiện, còn BLHS năm 2015 lại điều chỉnh cả chủ thể tham gia, tất nhiên bao gồm cả người đi bộ. Đó là quá trình cấp tiến về tư duy và cả lập pháp. Trước đây, “vi phạm quy định về tham gia GTĐB, đó là những hành vi vi phạm các quy định về ATGTĐB gây ra thiệt hại đến tính mạng hoặc gây ra thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, sức khỏe của người khác” [9, tr.
Quan điểm này mới chỉ nêu định nghĩa hành vi chứ chưa làm rõ khái niệm tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB, nhất là thiếu dấu hiệu chủ thể của tội phạm. Mặt khác, BLHS năm 2015 đã mở rộng chủ thể điều chỉnh nên cần có sự mở rộng nội hàm khái niệm loại tội phạm này. Theo góc nhìn của khoa học luật hình sự, tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB là khái niệm phải được thể hiện đầy đủ ở 03 khía cạnh tương ứng với 05 dấu hiệu cơ bản như đã nêu trên. Do đó, theo tác giả, khái niệm tội phạm này được định nghĩa như sau: Tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB là hành vi của người tham gia GTĐB mà vi phạm quy định về an toàn GTĐB do lỗi vô ý, gây ra thiệt hại cho tính mạng hoặc thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác do người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện.
Đặc điểm cơ bản của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ Căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử, có thể chỉ ra các đặc điểm cơ bản của tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB như sau: Một là, tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB là hành vi xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông vận tải đường bộ cũng như an toàn về tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác; xâm phạm đến an toàn 11 luan an công cộng, trật tự công cộng (thuộc nhóm tội xâm phạm trật tự công cộng) và bị xử lý theo quy định của pháp luật. Nói cách khác, đó là hành vi gây nguy hiểm đến xã hội, trực tiếp xâm phạm TTATGTĐB và gây nên thiệt hại về sức khoẻ, tính mạng và tài sản của người khác. Hai là, hành vi phạm tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB được biểu hiện một cách trực tiếp và chủ yếu thông qua người tham gia GTĐB (có thể họ là người điều khiển, người đang sử dụng phương tiện khi tham gia GTĐB; người đi bộ trên đường, người điều khiển dẫn dắt súc vật) tức là đang thực hiện các chức năng điều khiển đối với sự vật và các phương tiện GTĐB mà gây nên thiệt hại nghiêm trọng về tính mạng (dẫn đến chết người) hay gây nên thiệt hại nghiêm trọng về sức khoẻ (gây nên thương tích) và tài sản; gây thiệt hại nghiêm trọng cho trật tự an toàn công cộng. Ba là, tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB do chủ thể là người có năng lực TNHS và đã có đủ tuổi phải chịu TNHS thực hiện.
Nói cách khác, chủ thể của tội phạm vi phạm quy định về tham gia GTĐB là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi mình.