CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về loài Camellia hoaana 1. Phân loại khoa học của loài Camellia hoaana Cùng với Trà hoa vàng (Camellia bugiamapensis) và Trà hoa đỏ (Camellia campanulate) được phát hiện ở Vườn Quốc Gia Bù Gia Mập tỉnh Bình Phước, C. hoaana được định danh vào năm 2024 bởi Yang và cộng sự [3].
Hình ảnh thực tế của Camellia hoaana Giới: Plantae Ngành: Tracheophyta Lớp: Magnoliopsida Bộ: Ericales Họ: Theaceae Chi: Camellia Loài: Camellia hoaana Tên đầy đủ: Camellia hoaana H. Tên thường gọi: Trà hòa 1. Mô tả thực vật của loài Camellia hoaana Được định dạng vào năm 2024, C. hoaana sau khi trải qua phân tích về hình thái học 1 bởi các nhà nghiên cứu.
Nhóm Yang và cộng sự đã công bố về loài mới và là một phần của Camellia Corallina [3]. hoaana thường sinh trưởng theo dạng cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ, cao 3–7 m; cành non màu nâu, có lông và nhẵn. Lá hình elip, dài 9–11 cm, rộng 3,5–5 cm, có màu vàng; đỉnh nhọn, đáy rộng hình nêm, mép có răng cưa nông; phía trên có màu xanh đậm, sáng bóng và nhẵn; phía dưới màu xanh nhạt hơn và có lông thưa rải rác dọc theo gân giữa; gân giữa và gân bên chìm phía trên, nhô ra phía dưới [3]. Thân cây chưa được nghiên cứu rộng rãi về hàm lượng hoạt chất và chỉ sử dụng như là một nguồn để cung cấp lá và hoa.
Chính vì thế nghiên cứu này tiếp cận thân cây để nghiên cứu nâng cao tính kinh tế của bộ phận này. Hình thái lá của loài Camellia hoaana Hoa đơn hoặc mọc thành chùm, mọc ở nách lá hoặc ngọn, đường kính 1,4–1,7 cm; cuống dài 1–1,5 mm, có lông. Lá bắc 1 (hoặc không có), nằm sát đài hoa, hình trứng, có lông ở hai bên, mép có lông chuyển, dai dẳng. Các lá đài 4–5, hình quả trứng rộng, hình bán nguyệt đến gần quỹ đạo, dài 1–3 mm, rộng 1,2–4,5 mm, có lông ở cả hai mặt, mép có lông chuyển, dai dẳng.
Cánh hoa 5–6, màu trắng, gần tròn đến hình trứng thuôn dài, dài 5–8 mm, rộng 4–5,5 mm, ngoài cùng có 1–2 lông tơ ở đỉnh cả hai bên, phần còn lại nhẵn ở phía trên. hai bên, hơi hợp nhau ở gốc (Hình 1. 2 Quả nang gần hình cầu, có lông thưa thưa, có lông, rộng 2,6–3,5 cm, xẻ thành 3 van, vỏ dày 3–4,5 mm khi còn tươi và 2–2,5 mm khi khô. Hạt màu nâu, 1–2 mỗi ô, hình bán cầu hoặc hình cầu, rộng 0,8–1,5 cm, có nhiều lông nhung (Hình 1.
Hình thái hoa và cánh hoa của Camellia hoaana Hình 1. Hình thái quả và hạt của loài Camellia hoaana 1. Phân bố sinh thái của chi Camellia Nhìn chung các dạng thực vật thuộc chi Camellia phân bố đa dạng ở một vùng rộng trên thế giới chúng phân bố từ vĩ độ 45 °N (Nga) đến 30 °S (Nam Phi) và kinh độ 150 °E (New Guine) đến 60 °W (Argentina) [1]. Ở Việt Nam, chi Camellia phân bố trải dài theo các khu rừng có thảm thực vật phong 3 phú [6].
Tính đến năm 2017 Việt Nam có đến 68 loài thực vật thuộc chi Camellia, trong đó có đến 42 loài trà là trà hoa vàng biến Việt Nam thành nước có nhiều loài trà hoa vàng nhất thế giới [7]. Phân bố một số loại trà ở Việt Nam STT Tên khoa học Vùng phân bố TLTK 1 C. petelotii Vườn Quốc gia Tam Đảo [7] C. bugiamapensis Orel, Curry, Luu 2 VQG Bù Gia Mập [8] & Q.
capitata Orel, Curry & Luu. Lâm Đồng, VQG Cát Tiên [8] 4 C. chrysantha Vườn Quốc gia Tam Đảo [9] Quảng Ninh; Quế Phong, 5 C. chrysantha (Hu) Tuyama Nghệ An; Tam Đảo; Vĩnh [9] cửu, Đồng Nai.
duyana Orel, Curry & Luu Lâm Đồng, Đà Lạt [8] VQG Cúc Phương, Ninh 7 C. flava (Pitard) Sealy [9] Bình; Hòa Bình; Nghệ An 8 C. flosculora VQG Núi Bà [10] C.) 9 Lâm Đồng [8, 10] Phamhoang 10 C. ligustrina Orel, Curry & Luu Lâm Đồng, Ninh Thuận [8, 10] 11 C.
Đà Lạt, Đồng Nai [8] 12 C. tamdaoensis Vườn Quốc gia Tam Đảo [7] 1. Thành phần hóa học của chi Camellia Các kết quả nghiên cứu trong nước cho thấy các hoạt chất chính được chiết xuất từ chi Camellia chủ yếu là các hợp chất: polyphenol, flavonoid, saponin, acid amine, tannin, vitamin và các nhóm tinh dầu monoterpene. Nhóm nghiên cứu của Vu và đồng nghiệp ở Đại học Thủ Dầu Một vào tháng 5 năm 2024 đã phân tích ba loài C.
longii Orel & Luu. quephongnesis Hakoda et Ninh và C. yokdonensis Dung bis & Hakoda và chỉ ra rằng hàm lượng chính trong ba loài trà nói trên là các hợp chất như chlorophyll, carotenoid và polyphenol [6]. Theo báo cáo của Vu và cộng sự đã chứng minh sự có mặt của 27 acid phenolic, 4 carotenoid, 3 saccharide trong hầu hết các loại trà phổ biến 4 ở Việt Nam [11].
Bên cạnh đó, các nghiên cứu về chi Camellia trên thế giới cũng chứng minh các hợp chất cần quan tâm nghiên cứu là polyphenol [12, 13], flavonoid [14], saponin [15], …Loài C. hoaana là loài mới được phát hiện chưa có nhiều nghiên cứu về thành phần hóa học chi tiết. Chính vì thế chúng ta sẽ tìm hiểu thành phần hóa học của loài C. hoaana thông qua thành phần hóa học của chi Camellia.
Thành phần của chi Camellia nhìn chung rất phong phú mà tiêu biểu là saponin, polyphenol, flavonoid, … Chiết xuất thực vật của chi Camellia được sử dụng như những phương thuốc Đông y trị bệnh trong dân gian [16]. Hợp chất có cấu trúc hóa học được xác định bằng phương pháp sắc ký (Bảng 1.2) có hoạt tính sinh học tiềm năng, từ đó cần được khai thác để giúp ích cho đời sống xã hội [17]. Các hợp chất của chi Camellia được xác định bằng sắc ký cột STT Tên hợp chất Các hợp chất chính 12 catechin được xác định, bao gồm 8 loại với hàm lượng cao: (+)-catechin, (-)- epicatechin, (-)-gallocatechin, (-)- 1 Catechin epigallocatechin, (-)-catechin gallate, (-)-epicatechin gallate, (-)-gallocatechin gallate, (-)-epigallocatechin gallate. Theaflavin, theaflavin-3-O-gallate, theaflavin-3'-O-gallate, 2 Theaflavin theaflavin-3-3'-O-gallate.
3 Thearubigin Được phát hiện ở dạng polymer của catechin gallate 4 Alkaloid Caffeine, theophylline, theobromine 5 Oxyaromatic acid Gallic, caffeic, quinine, chlorogenic, n-coumaric acid 6 Flavonol Quercetin, kaempferol, myricetin Isoleucine, leucine, methionine, threonine, phenylalanine, 7 Amino acid glutamine, asparagine, alanine, serine, proline, histidine, glutamic acid, aspartic acid, theanine 8 Đường Glucose, fructose, saccharose 9 Vitamin Vitamins C, α-, β-, γ-, δ-tocopherols, riboflavin 10 Cation K+, Na+, Ca2+, Mg2+, NH4+, Al3+ Succinic, malic, tartaric, citric, quinic, aspartic, glutamic, 11 Dibasic acid oxalic acid 12 Kim loại Fe, Zn, Cu, Ni, Al 5 1. Các hợp chất saponin Từ nhiều năm về trước, chi Camellia được nghiên cứu như một chi tiềm năng về hoạt tính của các hợp chất saponin và sapogenin với bốn loài thực vật lớn là C. Hầu hết các kết quả nghiên cứu liên quan đến chiết xuất các hợp chất saponin từ chi trà đều thu được hỗn hợp saponin tiêu biểu là triterpenoid saponin từ các bộ phận của cây trà. Các hợp chất saponin là sự kết hợp giữa hai cấu trúc aglycon và glycoside vì thế cấu trúc của các hợp chất saponin có hai đầu một đầu ái nước một đầu ái dầu tương tự như chất tẩy rửa hay tính chất của chất hoạt động bề mặt [18].
Tính đến nay các nghiên cứu đã phân lập được 188 hợp chất hóa học có khung cấu trúc saponin trong công thức phân tử [16]. Các hợp chất này được phân lập bởi các nhà nghiên cứu từ các bộ phận nụ hoa, lá, thân, rễ, vỏ cây, … Đặc biệt có đến hơn 50% các hợp chất saponin có trong hạt của chi Camellia. Trong hạt của chi C. sinensis được trồng ở đất nước Sri Lanka có 9 theasaponin mới được đặt tên là assamsaponin [19].
Trong tổng số 77 saponin từ hạt của các hợp chất thuộc chi C. sinensis bao gồm: theasapogenol B (1), Oleanolic acid (2), Theasapogenol E (3), Gypsogenin (4), camelliasaponin, …[16]. Cấu trúc của các saponin 6 Bên cạnh có C. sinensis có 38 hợp chất saponin mới được phát hiện ở một loại Camelllia được trồng ở vùng Shizuoka ở Nhật Bản.
Theo báo cáo đến năm 2013 có đến 47 theasaponin được phân lập từ nụ hoa của 4 loài thuộc chi Camellia trong đó loài C. sinensis có 5 hợp chất mới được phân lập ở nụ hoa. Đối với rễ loài C. sinensis có 10 hợp chất Saponin được phát hiện [18].
Shen và đồng nghiệp đã thực hiện nghiên cứu trên nụ hoa trà ở 4 loài Camellia sinensis ở Trung Quốc, kết quả thu được 21 hợp chất saponin mới chưa từng phát hiện trước đó [15]. Các hợp chất polyphenol Hình 1. Các polyphenol điển hình Các hợp chất polyphenol là các hợp chất chuyển hóa thứ cấp quan trọng chiếm đến 20 - 30% trong hàm lượng nguyên liệu thô, nó ảnh hưởng đến chất lượng màu sắc, hương thơm và cả mùi vị của trà [20]. Các hợp chất polyphenol là những hợp chất thơm có nhóm hydroxyl gắn trực tiếp với vòng benzen.
Khi trong phân tử có nhiều nhóm hydroxyl gắn trực tiếp với nhân thơm thì được gọi là polyhydroxylphenol (monomer), 7 nhiều monomer gắn với nhau gọi là polyphenol [21]. Nhìn chung các hợp chất polyphenol có giá trị được nghiên cứu đến nay có thể kể đến là acid gallic (5), và các loại catechin như: (-) – epigallocatechin gallat (EGCG) (6), (-) – epigallocatechin (EGC) (7), (-) – epicatechin gallat (ECG) (8), (-) – epicatechin (EC) (9),… Các hợp chất polyphenol trên được Jia – Ni Lin và đồng sự nghiên cứu trên 6 loài Trà thuộc chi Camellia sinensis [22]. Các hợp chất polyphenol này cũng đóng vai trò như chất xúc tác thứ cấp cho quá trình chuyển hóa của enzyme và protein thành những chất TFs và TRs tạo nên hương thơm của các mùi trong lá trà. Hơn nữa đây cũng là hợp chất quan trọng trong quá trình ủ trà [22].
Một nghiên cứu về Trà Shan Tuyet (C. Shan) cho thấy là trà non của loài này có hàm lượng GC, EC, EGCG và GCG lần lượt là 43,4 ± 5,6; 37,7 ± 11,4; 34,1 ± 11,9 và 34,1 ± 11,9 mg/g cao khô [23]. Nghiên cứu so sánh về hàm lượng hoạt chất của 28 loại trà thành phẩm tại Việt Nam (từ Đại học Nguyễn Tất Thành) cho thấy tổng hàm lượng polyphenol trong trà đen 151,4 – 158,2 mg GAE/g nguyên liệu cao hơn đáng kể so với các loại trà đen được trồng ở Malaysia, Kenya và Trung Quốc [24]. Các hợp chất flavonoid Bằng phương pháp HPLC, Lydia cùng cộng sự đã đánh giá được hàm lượng flavonoid trong ba loại trà: trà đen, trà xanh và trà trắng.
Theo đó, phân đoạn ethyl acetate từ trà trắng phát hiện hàm lượng cao các flavonoid như: rutin (10), quercetin (11), hesperidin (12), kaempferol (13), apigenin (14) và galangin (15) [25]. Trong một nghiên cứu của Van và cộng sự năm 2019 phân lập được 5 hợp chất flavonoid từ hoa trà Camellia chrysantha (Hu) Tuyama bao gồm: (+)-catechin , (-)-epicatechin , quercetin, quercetin- 3-O-methyl ether và kaempferol [26].