CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TỘI NHẬN HỐI LỘ 1. Tội nhận hối lộ 1. Khái niệm Nhận hối lộ vẫn luôn là một vấn đề nóng, gây ra nhiều bức xúc trong dư luận và xã hội hiện nay. Do không những phức tạp, tinh vi mà nhận hối lộ còn có tác động lớn đến sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Bởi đây là một trong những tội phạm nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức và làm suy thoái đạo đức của cán bộ. Trước tiên, có rất nhiều quan điểm và cách hiểu khác nhau về khái niệm “hối lộ”. Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt năm 2013, “hối lộ” là động từ, có nghĩa là “đưa tiền của cho người có quyền hành để nhờ làm việc có lợi cho mình, bằng hành vi lạm dụng chức vụ, làm sai pháp luật”10. Ví dụ như hối lộ quan trên, nhận hối lộ, ăn hối lộ, đút lót.
Theo Đại học Cornell, Hối lộ (Bribe) được định nghĩa là “gạ gẫm, chấp nhận hoặc chuyển giao giá trị tham nhũng để đổi lấy hành động chính thức”11. Việc đề nghị, đưa, gạ gẫm hoặc nhận bất cứ thứ gì có giá trị như một phương tiện để tác động đến hành vi của một người có nghĩa vụ chính thức hoặc pháp lý chính là hình thức điển hình nhất của hối lộ. Loại hành động này đặt ra các vấn đề và cần được giải quyết một cách khách quan theo cách phù hợp nhất với lợi ích cá nhân của những người ra quyết định. Như vậy, hối lộ là một tội phạm hình sự và cả người đề nghị lẫn người nhận hối lộ đều có thể bị truy tố.
Ngoài ra, cụm từ “hối lộ” khi được nhìn nhận dưới góc độ Luật Hình sự Việt Nam thường được biểu hiện qua ba loại hành vi phạm tội, tương ứng với ba tội về hối lộ cụ thể, gồm Tội nhận hối lộ, Tội đưa hối lộ và Tội môi giới hối lộ. Cụ thể, theo Điều 354 Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tội nhận hối lộ là hành vi của một người có chức vụ, quyền hạn nhận hoặc sắp nhận bất kỳ lợi ích nào cho mình hoặc cho người khác hoặc tổ chức khác một cách trực tiếp hoặc thông qua một bên trung gian để làm hoặc không làm một việc gì đó vì lợi ích của người khác hoặc không vì lợi ích của mình hay vì lợi ích của người khác hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Do đó, trong BLHS VN, hành vi nhận hối lộ được xếp vào nhóm các tội phạm về chức vụ và là hành vi tham nhũng gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến các hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức và sự phát triển của đất nước. * Hành vi nhận hối lộ Theo Điều 354, Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 10 Hoàng Phê (2013), “Từ điển Tiếng Việt”, Nhà xuất bản Đà Nẵng, tr.
11 Cornell Law school (2022), “Bribery” – Legal Information Institute, xem tại: https://www.edu/wex/bribery, truy cập ngày 05/12/2022. 8 2017), nhận hối lộ là “hành vi của người lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào cho bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ”12. Ở đây, nhận hối lộ là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác các loại giá trị như tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000 đồng đến dưới 100.000 đồng hoặc dưới 2.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 – các tội phạm tham nhũng thuộc Chương 23 – các tội phạm về chức vụ của BLHS 2015, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc nhận các lợi ích phi vật chất, để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, do người từ đủ 16 tuổi trở lên13 và không trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự14 thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp15. Từ khái niệm trên, trong phạm vi đề tài nghiên cứu, nhóm nghiên cứu xin đưa ra khái niệm: “Nhận hối lộ là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn khi trực tiếp hoặc qua trung gian nhận bất kỳ lợi ích nào cho bản thân hay tổ chức, cá nhân khác nhằm vụ lợi hoặc làm theo yêu cầu của người đưa hối lộ”.
Bởi đa số, hành vi nhận hối lộ luôn không chỉ liên quan đến người nhận hối lộ mà còn liên quan đến chức vụ, quyền lực và lợi ích từ phía người nhận hối lộ để đáp ứng những nhu cầu, mong muốn, nguyện vọng của người đưa hối lộ. Mà ở đó, nhận hối lộ còn có thể xuất hiện với vô vàn loại giá trị lợi ích được trao, nhằm thực hiện một cách trực tiếp hoặc gián tiếp hành vi nhận hối lộ, diễn ra dưới nhiều hình thức tinh vi, phức tạp và khó lường. * Tội nhận hối lộ Theo quan điểm của tác giả Lê Quang Thành trong cuốn Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, tội nhận hối lộ” được hiểu là: “hành vi của người có chức vụ, quyền hạn, lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích (vật chất hoặc phi vật chất khác) dưới bất kỳ hình thức nào cho chính bản thân người đó hoặc cho người khác hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hay theo yêu cầu của người đưa hối lộ”16. Từ đó, nhóm nghiên cứu nhóm nghiên cứu xét thấy, nhận hối lộ có ba đặc điểm nổi bật gồm: Chủ thể của nhận hối lộ là người có chức vụ, quyền hạn; Nhận hối lộ là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn khi họ có sự lợi dụng về vị trí, quyền lực, quyền hành được giao để giải quyết được những yêu cầu của người đưa hối lộ hoặc cho 12 Điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
13 Khoản 1 Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). 14 Điều 21 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). 15 Khoản 1 Điều 10 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). 16 Lê Quang Thành (2020), “Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017”, Nhà xuất bản Lao động, tr.
9 chính bản thân mình; Tội nhận hối lộ được thực hiện vì mục đích vụ lợi. Với những đặc điểm trên, chúng tôi đánh giá tội nhận hối lộ là một tội có hành vi phạm tội rất tinh vi, khó lường và vô cùng phức tạp. Đặc điểm của tội nhận hối lộ Theo quy định của pháp luật Hình sự Việt Nam, nhận hối lộ là một trong 7 tội phạm về tham nhũng, chức vụ được quy định tại Mục 1 Chương 23 của BLHS 2015 nên tội nhận hối lộ được coi là một tội phạm về chức vụ và bị xử lý theo quy định cụ thể tại Điều 354 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Tội nhận hối lộ có khung hình phạt cao nhất là tử hình và mức hình phạt thấp nhất là từ 02 – 07 năm tù giam, tùy thuộc vào giá trị của của hối lộ, mức độ gây thiệt hại, tính chất và hoàn cảnh phạm tội và các tình tiết khác.
Bên cạnh đó, nhận hối lộ còn là một tội phạm điển hình của nhóm tội phạm tham nhũng, khi hành vi nhận hối lộ là một trong số mười hai hành vi tham nhũng được nêu cụ thể tại Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018. Qua đó, tội nhận hối lộ bao gồm một số đặc điểm nổi bật sau: (1) Tội nhận hối lộ là một trong các tội về tham nhũng nhưng có những điểm đặc trưng riêng. Nhận hối lộ cũng là một trong số 12 hành vi tham nhũng được quy định cụ thể tại Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 nên hậu quả nghiêm trọng mà những hành vi này có thể gây ra là vô cùng đáng quan ngại. Mặc dù cùng chung biểu hiện là việc một cá nhân có chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi dựa trên chức vụ, quyền hạn của mình vì mục đích vụ lợi nhưng tội nhận hối lộ vẫn có một số điểm khác biệt so với các tội phạm tham nhũng khác như: Thứ nhất, với tội nhận hối lộ, người phạm tội không chỉ có thể bị truy cứu trách nhiệm khi đã nhận được của hối lộ mà còn cả khi sẽ nhận được của hối lộ.
Bởi người phạm tội có thể không chiếm đoạt tài sản mà chỉ làm hoặc không làm một việc gì đó có lợi cho người đưa hối lộ hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Nếu người nhận hối lộ và người đưa hối lộ đồng thời có sự thỏa thuận ngay tại thời điểm chuyển giao giá trị lợi ích vật chất thì đồng thời cả người đưa và người nhận hối lộ đều đã đạt đủ cấu thành của tội nhận hối lộ và bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự. Thứ hai, nhận hối lộ khác với các tội phạm tham nhũng khác ở chỗ người phạm tội không chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý như tội tham ô tài sản (Điều 353 BLHS 2015), mà nhận tài sản hoặc lợi ích do người khác đưa. Bởi tham ô tài sản là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý.
Còn với tội nhận hối lộ, người phạm tội nhận lợi ích từ bên ngoài, không phải là tài sản mình có trách nhiệm quản lý. Bên cạnh đó, điểm khác của tội nhận hối lộ so với các tội phạm tham nhũng khá như Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355 BLHS 2015); Tội làm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 357 BLHS 10 2015) còn nằm ở chỗ những tội phạm này không có yếu tố nhận hoặc sẽ nhận lợi ích từ người khác. Thứ ba, với các tội phạm tham nhũng thì những người có chức vụ, quyền hạn hoặc nhiệm vụ công quyền khác đã lợi dụng địa vị của mình để chiếm đoạt, lấy trộm hoặc biển thủ tài sản công hoặc tài sản của người khác.