CHƯƠNG 1 ĐỊNH TỘI DANH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 1. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về hành vi chiếm đoạt tài sản của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Điều 174 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (BLHS năm 2015) quy định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (LĐCĐTS) như sau: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác…”. Như vậy, hành vi khách quan của tội LĐCĐTS là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối. Hành vi khách quan của tội phạm này bao gồm hai hành vi là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác và hành vi lừa dối (thủ đoạn gian dối).
Trong nội dung chương này của Luận văn, tác giả chỉ đi vào phân tích và xác định hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội LĐCĐTS. Hành vi chiếm đoạt tài sản của tội LĐCĐTS không được hướng dẫn cụ thể. Tuy nhiên, hành vi chiếm đoạt của tội LĐCĐTS (Điều 174 BLHS năm 2015) cũng là một trong các hành vi chiếm đoạt tài sản trong các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt.1 Mặc dù không được hướng dẫn cụ thể, tuy nhiên, xuất phát từ lý luận về hành vi chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự, đặc biệt là thông qua các giáo trình Luật hình sự hiện nay ở Việt Nam, có thể hiểu hành vi chiếm đoạt tài sản trong các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt nói chung và trong tội LĐCĐTS nói riêng là hành vi cố ý chuyển biến trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình.2 Từ khái niệm nêu trên, hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội LĐCĐTS có các đặc điểm sau: - Hành vi chiếm đoạt tài sản là hành vi làm cho chủ sở hữu tài sản, người quản lý tài sản mất khả năng thực tế thực hiện các quyền của chủ sở hữu đối với tài sản, đồng thời, tạo cho người chiếm đoạt có thể thực hiện được các quyền này. Xét về mặt thực tế, chiếm đoạt tài sản là hành vi vừa làm cho người quản lý tài sản mất khả năng thực tế thực hiện các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt 1 Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt bao gồm: Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS), tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169 BLHS), tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170 BLHS), tội cướp giật tài sản (Điều 171 BLHS), tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172 BLHS), tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS), tội LĐCĐTS (Điều 174 BLHS) và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS).
2 Trường Đại học Luật TP.HCM (2019), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần Các tội phạm – Quyển 1) (Tái bản lần thứ nhất, có sửa chữa, bổ sung), NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 7 đối với tài sản của mình; vừa tạo cho người chiếm đoạt có thể thực hiện được các quyền đó. Tuy nhiên, xét về mặt pháp lý, hành vi chiếm đoạt tài sản là hành vi trái pháp luật nên không làm cho chủ sở hữu mất quyền sở hữu đối với tài sản của mình (tức là về mặt pháp lý, tài sản đó vẫn thuộc quyền sở hữu của chủ sở hữu tài sản); đồng thời cũng không tạo cho người phạm tội có được quyền sở hữu đối với tài sản đó. - Tài sản là đối tượng tác động của hành vi chiếm đoạt tài sản phải đang có người quản lý.
Sự quản lý này có thể là sự quản lý hợp pháp (chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao cho quản lý tài sản hoặc trường hợp người được quản lý tài sản do pháp luật quy định) cũng có thể là sự quản lý bất hợp pháp. Nếu tài sản đã thoát ly khỏi sự quản lý, chiếm hữu của người quản lý tài sản thì không phải là đối tượng tác động của hành vi chiếm đoạt tài sản. - Xét về mặt chủ quan, người thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội LĐCĐTS phải có lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội biết rõ tài sản bị chiếm đoạt đang có người quản lý nhưng vẫn mong muốn chuyển dịch trái pháp luật tài sản đó thành tài sản của mình.
Việc xác định đúng hành vi chiếm đoạt tài sản có ý nghĩa quan trọng trong việc phân biệt các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt với các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt cùng nằm trong Chương các tội xâm phạm sở hữu (Chương XVI BLHS năm 2015) và phân biệt được các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt với các trường hợp không phải là tội phạm (quan hệ pháp luật dân sự, kinh tế…). Một số vướng mắc trong thực tiễn định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo hành vi chiếm đoạt tài sản Trong tội LĐCĐTS, khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người bị hại, trước hết người phạm tội phải có ý định chiếm đoạt tài sản nên mới đưa ra thông tin gian dối nhằm làm cho người khác tin đó là sự thật mà tự nguyện giao tài sản. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy, việc xác định hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội LĐCĐTS vẫn còn có một số hạn chế, vướng mắc nhất định. Để làm rõ những vướng mắc này, tác giả đưa ra một vài vụ án điển hình để phân tích, chứng minh và đưa ra nhận xét.
Thứ nhất, phân biệt giữa hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội LĐCĐTS (Điều 174 BLHS năm 2015) với hành vi sử dụng trái phép tài sản trong tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 177 BLHS năm 2015). 8 Vụ án thứ nhất:3 Bản án hình sự phúc thẩm (HSPT) số 165/2019/HS-PT ngày 25/6/2019 của Tòa án nhân dân (TAND) cấp cao tại Đà Nẵng. Nội dung vụ án: Khoảng tháng 3/2017, ông Hồ Đắc T, giám đốc Công ty C điều động M là nhân viên của Công ty vào làm kế toán kiêm thủ quỹ Phòng bán vé của Công ty C tại Bến xe Miền Đông, Thành phố Hồ Chí Minh (TP. M có nhiệm vụ quản lý tiền phát sinh trong hoạt động kinh doanh và làm dịch vụ chuyển tiền cho khách hàng của Công ty C tại Bến xe Miền Đông.
Trong thời gian này, D thường đến Phòng bán vé của Công ty C chuyển tiền về thành phố T5 nên biết được nhiệm vụ của M. D nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của Công ty C nên chủ động làm quen với M. Để tạo lòng tin, D thường xuyên mua trái cây đến Phòng bán vé cho M và các nhân viên ở đây, thường xuyên chuyển tiền về cho người thân ở thành phố T5. Sau khi đã tạo được lòng tin, D nhiều lần điện thoại, nhắn tin mượn tiền của M để chuyển cho người thân ở thành phố T5 và sau đó D trả tiền đầy đủ, đúng hẹn.
Ngày 25/01/2018, D điện thoại nhờ M chuyển 13.000 đồng cho Lưu Mạnh D ở thành phố T5 và hứa sẽ trả cho M vào chiều cùng ngày, nhưng sau đó D không trả mà tiếp tục nhờ M chuyển tiền nhiều lần cho nhiều người ở thành phố T5. Khi số tiền lên đến khoảng hơn 60.000 đồng, M đòi thì D nói số tiền mượn đã hùn vốn đóng tàu với một người đàn ông ở TP.HCM, nhưng hiện còn đang thiếu vốn nên bảo M tiếp tục lấy tiền đưa cho D mượn đầu tư đóng xong tàu, xuất hóa đơn bán sẽ có tiền trả lại cho M. Để M tin tưởng, D nhiều lần đưa cho M từ 1.000 đồng và nói là tiền của ông đóng tàu cho M, tổng cộng D đã đưa cho M 40. M không được chủ sở hữu tài sản là 04 thành viên góp vốn của Công ty C cho phép, nhưng do tin tưởng và được D cho 40.000 đồng nên đã tự ý lấy 1.000 đồng của Công ty C đưa cho D.
M lấy tiền của Công ty C đưa cho D bằng hai hình thức: Một là, lợi dụng nhiệm vụ được giao làm dịch vụ chuyển tiền, M đã chuyển tiền về cho 9 người thân của D ở thành phố T5 để đưa lại hoặc trả nợ cho D, tổng cộng 658. Hai là, M nhiều lần lấy tiền mặt của Công ty C do M đang quản lý đưa cho D, tổng cộng 771. Với thủ đoạn trên, trong thời gian từ ngày 25/01/2018 đến ngày 06/03/2018, D đã chiếm đoạt của Công ty C 1.000 đồng để trả nợ và tiêu xài. 3 Phụ lục số: 01.
9 Quan điểm của các cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) về việc xác định tội danh đối với hành vi của D và M: - Tại bản án hình sự sơ thẩm (HSST) số 02/2019/HS-ST ngày 15/01/2019, TAND tỉnh Phú Yên tuyên phạt bị cáo D 16 năm tù về tội LĐCĐTS theo điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS năm 2015 và tuyên phạt bị cáo M 2 năm tù về tội sử dụng trái phép tài sản theo điểm a khoản 2 Điều 177 BLHS năm 2015. - Tại bản án HSPT số 165/2019/HS-PT ngày 25/6/2019, TAND cấp cao tại Đà Nẵng quyết định giữ nguyên bản án HSST số 02/2019/HS-ST ngày 15/01/2019 của TAND tỉnh Phú tuyên phạt bị cáo M 2 năm tù về tội sử dụng trái phép tài sản theo điểm a khoản 2 Điều 177 BLHS năm 2015. Nhận xét, đánh giá và vướng mắc đặt ra từ vụ án: Trong vụ án trên, mặc dù hành vi của D và M đều có cùng khách thể và đối tượng tác động nhưng do tính chất của hành vi khách quan khác nhau nên D và M bị xét xử về hai tội danh khác nhau là phù hợp với quy định của pháp luật. Cụ thể: - Đối với D: Do D đã có ý định chiếm đoạt tài sản của công ty C ngay từ đầu nên D đã đưa ra thông tin gian dối đối với M.
Theo đó, D nói với M là D mượn tiền để hùn vốn đóng tàu với một người đàn ông ở TP. Khi nào đầu tư đóng tàu xong, xuất hóa đơn bán sẽ có tiền trả lại cho M. Tuy nhiên, thông tin này của D là thông tin không đúng với sự thật nhằm làm cho M tin là thật để M lấy tiền của công ty C trị giá 1. Do đó, hành vi của D là hành vi cố ý đưa ra thông tin gian dối để M tin là thật và tự nguyện giao tài sản.
D đã có hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản của công ty C thành tài sản của mình. Vì thế, hành vi của D có đầy đủ yếu tố cấu thành tội LĐCĐTS theo Điều 174 BLHS năm 2015.