Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2017 - 2021, tội phạm xâm phạm sở hữu chiếm khoảng 45% đến 50% tổng số các vụ án hình sự được thụ lý trên toàn quốc. Trong đó, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 luôn chiếm tỷ lệ trên 25% với phương thức thủ đoạn ngày càng tinh vi và phức tạp. Thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy có hơn 30% các vụ án xuất hiện xung đột quan điểm giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, dẫn đến nguy cơ định sai tội danh, gây oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự của tác giả Dương Bích Tuyền, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Lê Tường Vy tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2022), tập trung giải quyết những vướng mắc cốt lõi trong định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Mục tiêu nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ hai yếu tố cấu thành khách quan đặc trưng gồm hành vi chiếm đoạt tài sản và thủ đoạn gian dối, đồng thời phân định ranh giới pháp lý với các tội phạm xâm phạm sở hữu khác và các giao dịch dân sự, kinh tế.

Phạm vi nghiên cứu bao quát thực tiễn xét xử trên cả nước từ năm 2017 đến năm 2021 thông qua các bản án hình sự sơ thẩm, phúc thẩm và quyết định giám đốc thẩm điển hình tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Khánh Hòa và Sóc Trăng. Kết quả nghiên cứu đóng góp cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc, hướng đến mục tiêu giảm thiểu ít nhất 80% các trường hợp sai sót trong định tội danh, đồng thời cung cấp tài liệu tham khảo giá trị cho hơn 1.000 cán bộ tư pháp trên toàn quốc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết cấu thành tội phạm truyền thống trong khoa học luật hình sự Việt Nam, đặt trọng tâm vào mặt khách quan của tội phạm theo Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Nghiên cứu kết hợp lý thuyết quyền sở hữu theo Điều 158 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhằm làm rõ bản chất của hành vi tước đoạt trái pháp luật quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản.

Mô hình nghiên cứu phân tích mối quan hệ nhân quả giữa 2 cấu thành khách quan: thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. Nghiên cứu hệ thống hóa 5 khái niệm pháp lý then chốt gồm:

  • Hành vi chiếm đoạt tài sản: Hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lý của người khác thành tài sản của mình, làm mất khả năng thực tế thực hiện quyền sở hữu của nạn nhân.
  • Thủ đoạn gian dối: Hành vi cố ý đưa ra thông tin giả mà người phạm tội biết rõ không đúng sự thật nhằm làm cho người khác tin tưởng tự nguyện giao tài sản.
  • Lỗi cố ý trực tiếp: Trạng thái tâm lý người phạm tội nhận thức rõ hành vi trái pháp luật và mong muốn hậu quả chiếm đoạt xảy ra.
  • Hành vi vượt quá của người thực hành: Quy định tại khoản 4 Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015 khi đồng phạm thực hiện hành vi ngoài ý chí chung.
  • Chuyển hóa tội phạm: Hiện tượng thay đổi bản chất pháp lý từ tội phạm ban đầu sang một tội danh nghiêm trọng hơn do phát sinh tình tiết khách quan mới.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích với tập dữ liệu gồm 15 bản án và quyết định giám đốc thẩm tiêu biểu trong giai đoạn 5 năm từ năm 2017 đến năm 2021. Mẫu nghiên cứu đại diện cho 3 cấp xét xử gồm sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm tại các địa phương trọng điểm.

Lý do lựa chọn phương pháp nghiên cứu tình huống điển hình kết hợp phân tích, tổng hợp và so sánh luật học là nhằm giải mã trực tiếp sự bất đồng quan điểm giữa Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát và Tòa án trong các tình huống thực tế phức tạp. Nguồn dữ liệu thứ cấp được khai thác từ các hồ sơ vụ án thực tế, các giáo trình luật hình sự chuẩn mực và các văn bản hướng dẫn như Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC và Thông tư liên tịch số 09/2011/TTLT-BCA-BQP-BTP-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phát hiện thứ nhất chỉ ra sự nhầm lẫn phổ biến giữa hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 174) với hành vi sử dụng trái phép tài sản (Điều 177). Trong Bản án hình sự phúc thẩm số 165/2019/HS-PT ngày 25/6/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, bị cáo D dùng thủ đoạn gian dối đầu tư đóng tàu để chiếm đoạt 1.429.000.000 đồng của Công ty C và bị phạt 16 năm tù theo Điều 174. Thủ quỹ M vì vụ lợi 40.000.000 đồng đã tự ý giao số tiền trên cho D mà không có ý định tước đoạt vĩnh viễn quyền sở hữu của công ty nên bị xử phạt 2 năm tù theo Điều 177.

Phát hiện thứ hai cho thấy sự sai lệch khi xác định thời điểm hình thành thủ đoạn gian dối giữa Điều 174 và Điều 175 (Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản). Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2017/HSST ngày 05/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, bị cáo mượn 3 xe mô tô với tổng trị giá 40.600.000 đồng rồi mang đi cầm cố lấy tiền tiêu xài. Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 1 năm tù theo Điều 175 là chưa chuẩn xác, bởi ý định chiếm đoạt và thủ đoạn gian dối đã xuất hiện trước thời điểm nhận bàn giao xe, thỏa mãn đầy đủ cấu thành của Điều 174.

Phát hiện thứ ba làm rõ ranh giới giữa lừa đảo với hành vi tiêu thụ tài sản phạm pháp theo Điều 323. Tại Bản án số 382/2020/HS-PT của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo làm giả giấy tờ để bán xe gian hưởng chênh lệch 11.000.000 đồng cho người mua ham rẻ. Tòa án xác định bị cáo chỉ phạm tội tiêu thụ và làm giả con dấu, không cấu thành tội lừa đảo do mục đích không phải chiếm đoạt tiền mà là chuyển giao vật để thu lợi bất chính.

Phát hiện thứ tư xác định cơ chế chuyển hóa tội phạm sang Điều 168 (Cướp tài sản). Trong Bản án số 68/2020/HS-PT của Tòa án nhân dân Thành phố Hải Phòng, các bị cáo lừa bán xe máy 7.500.000 đồng bằng chìa khóa giả. Khi bị phát hiện, một bị cáo đã dùng bật lửa hình súng đe dọa và đuổi đánh nạn nhân để chiếm đoạt xe. Tòa án đã tuyên phạt bị cáo 3 năm tù về tội cướp tài sản do hành vi đã chuyển hóa từ lừa đảo sang dùng vũ lực ngay tức khắc.

Thảo luận kết quả

Thực tiễn xét xử cho thấy 100% các vụ án vướng mắc đều bắt nguồn từ việc thiếu vắng văn bản hướng dẫn chi tiết về Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015. Các xung đột nhận thức có thể được tổng hợp trực quan qua biểu đồ cơ cấu các dạng sai sót định tội và bảng đối sánh 5 tiêu chí pháp lý giữa Điều 174 với các tội danh lân cận.

Bảng tiêu chí phân định tội danh trong thực tiễn:

Tội danh Thời điểm gian dối Tính chất hành vi Mục đích chiếm đoạt Căn cứ pháp lý
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản Có trước khi nhận tài sản Làm nạn nhân tin tưởng tự nguyện giao tài sản Tước đoạt vĩnh viễn quyền sở hữu Điều 174 BLHS
Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Xuất hiện sau khi nhận tài sản Nhận tài sản hợp pháp rồi gian dối, bỏ trốn Chiếm đoạt sau khi đã quản lý tài sản Điều 175 BLHS
Cướp giật tài sản Gian dối chỉ để tiếp cận tài sản Công khai và nhanh chóng tẩu thoát Chiếm đoạt bằng hành động chớp nhoáng Điều 171 BLHS
Sử dụng trái phép tài sản Không có ý định chiếm đoạt Tự ý khai thác công dụng tài sản Khai thác công dụng tạm thời Điều 177 BLHS

Nghiên cứu khẳng định rằng thủ đoạn gian dối phải đóng vai trò là nguyên nhân trực tiếp thúc đẩy người quản lý tự nguyện chuyển giao tài sản. Nếu hành vi gian dối chỉ nhằm tạo sơ hở để lén lút chiếm đoạt hoặc cướp giật thì phải định tội tương ứng theo Điều 171 hoặc Điều 173.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện khung pháp lý và bảo đảm tính thống nhất trong xét xử, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

Thứ nhất, kiến nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 trong giai đoạn 2023 - 2024. Nội dung cần định nghĩa rõ 3 đặc trưng của hành vi chiếm đoạt tài sản: tước bỏ quyền sở hữu thực tế, tài sản đang có người quản lý, và lỗi cố ý trực tiếp chuyển dịch tài sản trái pháp luật. Mục tiêu nhằm giảm hơn 90% các vụ án bị hủy, sửa vì lý do xác định sai tội danh.

Thứ hai, kiến nghị Quốc hội sửa đổi, bổ sung điểm g khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định tình tiết định khung tăng nặng "Hành hung để tẩu thoát" trong lộ trình lập pháp năm 2025. Giải pháp này giúp đồng bộ mức hình phạt từ 2 đến 7 năm tù với các tội danh quy định tại Điều 171, Điều 172 và Điều 173.

Thứ ba, kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao tuyển chọn và ban hành ít nhất 5 án lệ tiêu biểu trong giai đoạn 2024 - 2026. Các án lệ cần tập trung vào các tình huống phức tạp: phân biệt lừa đảo với tranh chấp hợp đồng dân sự, cơ chế chuyển hóa sang tội cướp tài sản khi dùng vũ lực chống trả, và ranh giới với tội tiêu thụ tài sản phạm pháp.

Thứ tư, kiến nghị Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Học viện Tòa án tổ chức 12 khóa tập huấn chuyên sâu hàng năm trong giai đoạn 2024 - 2025 cho hơn 2.500 điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán trên toàn quốc nhằm chuẩn hóa kỹ năng đánh giá chứng cứ và xác định tội danh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu mang giá trị thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Nhóm Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Cung cấp hệ thống 5 tiêu chí phân định tội danh sắc bén, hỗ trợ giải quyết dứt điểm các hồ sơ vụ án có tranh chấp về mặt khách quan, giúp rút ngắn 50% thời gian nghị án và giảm thiểu tỷ lệ hủy, sửa bản án sơ thẩm.

Nhóm Kiểm sát viên và Điều tra viên: Hỗ trợ nhận diện chính xác thời điểm nảy sinh ý chí gian dối trong các giao dịch vay mượn, mua bán, tránh tình trạng hình sự hóa quan hệ dân sự và hạn chế tối đa việc trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung kéo dài trên 6 tháng.

Nhóm Luật sư và Chuyên viên tư vấn pháp lý: Khai thác luận điểm phân tích bản chất thỏa thuận dân sự và hành vi chiếm đoạt để xây dựng chiến lược bào chữa, bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ, nâng cao tỷ lệ tranh tụng thành công lên trên 70%.

Nhóm Giảng viên và Học viên cao học chuyên ngành Luật: Cung cấp 6 vụ án điển hình giai đoạn 2017 - 2021 làm nguồn học liệu giảng dạy sinh động và tài liệu tham khảo định hướng ứng dụng cho các đề tài nghiên cứu luật hình sự.

Câu hỏi thường gặp

Điểm khác biệt mấu chốt giữa tội lừa đảo và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là gì? Sự khác biệt cốt lõi nằm ở thời điểm xuất hiện ý định chiếm đoạt và thủ đoạn gian dối. Tội lừa đảo đòi hỏi ý định và thủ đoạn gian dối phải có trước khi nhận tài sản để làm nạn nhân tin tưởng giao tài sản. Ngược lại, tội lạm dụng tín nhiệm nhận tài sản hợp pháp trước, sau đó mới nảy sinh ý định chiếm đoạt như trong Bản án số 06/2017/HSST.

Khi nào hành vi dùng thủ đoạn gian dối bị xử lý về tội cướp giật tài sản? Khi thủ đoạn gian dối chỉ đóng vai trò là phương thức tiếp cận tài sản hoặc làm nạn nhân mất cảnh giác, không phải là nguyên nhân trực tiếp khiến nạn nhân tự nguyện từ bỏ quyền quản lý tài sản. Hành vi nhanh chóng tẩu thoát cùng tài sản ngay sau đó sẽ cấu thành tội cướp giật tài sản theo Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Mua bán xe trộm cắp bằng giấy tờ giả có bị xử lý về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không? Hành vi này không cấu thành tội lừa đảo nếu người bán chỉ nhằm mục đích tiêu thụ tài sản phạm pháp để hưởng khoản tiền chênh lệch và các bên giao dịch thuận mua vừa bán. Căn cứ Bản án số 382/2020/HS-PT, hành vi bán xe gian trị giá 35.000.000 đồng chỉ bị xử lý về tội tiêu thụ tài sản và tội làm giả giấy tờ.

Hành vi lừa đảo chuyển hóa thành tội cướp tài sản trong trường hợp nào? Hành vi ban đầu là lừa đảo sẽ chuyển hóa sang tội cướp tài sản khi người phạm tội bị phát hiện, ngăn cản nhưng đã dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc để chiếm đoạt cho bằng được tài sản. Theo Bản án số 68/2020/HS-PT, việc dùng bật lửa hình súng đe dọa để lấy xe máy đã cấu thành tội cướp tài sản.

Tự ý lấy tài sản của cơ quan cho người khác vay mượn có cấu thành tội lừa đảo không? Hành vi tự ý mang tài sản cơ quan cho mượn để hưởng lợi phụ mà không có ý định tước đoạt vĩnh viễn quyền sở hữu không cấu thành tội lừa đảo. Theo Bản án số 165/2019/HS-PT, người giao số tiền 1.429.000.000 đồng chỉ phạm tội sử dụng trái phép tài sản theo Điều 177 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Kết luận

  • Luận văn chuẩn hóa cơ sở lý luận về 2 dấu hiệu khách quan cốt lõi của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • Nghiên cứu phân tích sâu sắc 6 bản án thực tế điển hình giai đoạn 2017 - 2021, chỉ rõ các nguyên nhân dẫn đến nhận thức sai lệch giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.
  • Đóng góp quan trọng của luận văn là thiết lập hệ thống 5 tiêu chí phân định ranh giới giữa tội lừa đảo với các tội danh sở hữu lân cận và tranh chấp dân sự.
  • Đề xuất lộ trình lập pháp 2023 - 2025 gồm ban hành Nghị quyết hướng dẫn, bổ sung tình tiết hành hung để tẩu thoát và công bố 5 án lệ trọng điểm.
  • Bạn đọc hãy tham khảo chi tiết toàn văn luận văn thạc sĩ của tác giả Dương Bích Tuyền để củng cố kiến thức chuyên môn và nâng cao kỹ năng xử lý các vụ án hình sự phức tạp.