Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI LÀM, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN LƯU HÀNH TIỀN GIẢ, NGÂN PHIẾU GIẢ, CÔNG TRÁI GIẢ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. NHỮNG KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN 1. Khái niệm tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả Tiền là "vật đúc bằng kim loại hay in bằng giấy do ngân hàng phát hành, dùng làm đơn vị tiền tệ" [29, tr. Hiện nay chưa có khái niệm nào mang tính pháp lý về "tiền" mà chỉ có các khái niệm về "tiền tệ".
Tiền được hiểu là một bộ phận của tiền tệ. Theo quan điểm của C. Mác, tiền tệ là một thứ hàng hóa đặc biệt, được tách ra khỏi thế giới hàng hóa, được dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hóa khác. Nó trực tiếp thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hóa.
Theo các nhà kinh tế học hiện đại tiền là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hóa, dịch vụ hoặc để trả nợ. Theo khoản 1, Điều 9 Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2003 thì "tiền tệ là phương tiện thanh toán bao gồm tiền giấy, tiền kim loại và các giấy tờ có giá khác như tiền" [40]. Căn cứ vào các quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 thì tiền là một loại tài sản phổ biến trong giao lưu dân sự, nó thực hiện các chức năng thanh toán thông dụng nhất và tiền chỉ do Ngân hàng Nhà nước phát hành. Hiện nay, tiền được lưu hành trên lãnh thổ Việt Nam là tiền giấy, đơn vị tính là Việt Nam đồng, được cấu tạo dưới dạng hợp chất polyme không thấm nước và khó bị nhàu nát như tiền giấy trước đây.
Ngân phiếu là "phiếu có ghi số tiền, dùng làm căn cứ nhận tiền tại ngân hàng hoặc nhận tiền gửi qua bưu điện" [29, tr. 65] Đó là một dạng phiếu dùng để thay thế tiền mặt, có in mệnh giá và thời hạn lưu hành. Trên thực tế thì ngân phiếu, đặc biệt là ngân phiếu nhà nước có tác dụng tích cực. Nó làm 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giảm khối lượng tiền mặt trong quá trình lưu thông tiền tệ, giúp đối phó với một số thời điểm khó khăn do hệ thống ngân hàng thiếu tiền mặt tức thời trong thanh toán.
Ở Việt Nam thì ngân phiếu được giao cho Ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành. Công trái là "hình thức nhà nước vay vốn của các tầng lớp nhân dân, người cho vay được quyền thu lại vốn và hưởng lãi theo quy định" [29, tr. Công trái được Nhà nước phát hành bằng một giấy tờ gọi là phiếu công trái. "Giả" theo Từ điển tiếng Việt là "không phải là thật mà là được làm ra với vẻ bề ngoài giống như cái thật" [29, tr.
Theo hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật hình sự của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP thì "tiền giả bao gồm tiền Việt Nam đồng giả và ngoại tệ giả; ngân phiếu giả, công trái giả bao gồm ngân phiếu, công trái giả ngân phiếu, công trái của Việt Nam hoặc của nước ngoài phát hành nhưng có giá trị thanh toán tại Việt Nam" [49]. Đến nay vẫn chưa có một tài liệu khoa học nào đưa ra định nghĩa thế nào là tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả mặc dù tiền giả có một lịch sử tồn tại khá lâu đời, ngay từ khi xuất hiện một loại tài sản làm cơ sở để giao dịch thông thương là tiền thì cũng có sự xuất hiện của tiền giả. Theo định nghĩa tại Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì "tiền giả là tiền được sản xuất mà không có chế tài pháp lý của nhà nước hoặc chính phủ". Tại Quyết định số 130/QĐ-TTg ngày 30/6/2003 của Thủ tướng Chính phủ về bảo vệ tiền Việt Nam thì tiền giả được hiểu là "tiền được làm giống như tiền Việt Nam nhưng không phải do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức in, đúc, phát hành" [8].
Đối với một số nước trên thế giới, tiền giả được giải thích cụ thể hơn, đó là: tiền giả là bất cứ vật gì không phải là tiền thật (tiền giấy, tiền xu) mà được làm giống hay cố tình làm giống hoặc làm cho được chấp nhận như là một đồng tiền thật; hoặc tiền giả là tiền thật nhưng bị sửa đổi bằng cách can dán, cạo sửa hoặc in lại. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Định nghĩa trên cũng chưa thể hiện được tính đầy đủ về bản chất của tiền giả theo pháp luật hình sự Việt Nam bởi ngoài tiền của Nhà nước Việt Nam phát hành thì còn có các đối tượng tiền giả là tiền của nước ngoài nhưng có giá trị thanh toán tại Việt Nam. Từ những phân tích trên đây, có thể đưa ra định nghĩa khoa học về tiền giả, ngân phiếu giả và công trái giả như sau: "Tiền giả" là vật đúc bằng kim loại hay in bằng giấy không phải do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành hoặc nước ngoài phát hành nhưng có giá trị thanh toán tại Việt Nam; "Ngân phiếu giả" là phiếu có ghi số tiền dùng làm căn cứ nhận tiền tại ngân hàng hoặc nhận tiền gửi qua bưu điện không phải do Ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành mà là được làm giả với vẻ bề ngoài giống như cái thật; "Công trái giả" là phiếu công trái không phải do các cơ quan chức năng phát hành mà là được giả với vẻ bề ngoài giống như cái thật. Khái niệm tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả Tiền giả xuất hiện từ rất lâu đời ngay từ khi xuất hiện tiền trong lưu thông tiền tệ.
Ngay từ khi giành được độc lập năm 1945, song song với các vấn nạn, tệ nạn xã hội thì nạn tiền giả đã xuất hiện nhiều và Chính phủ đã phải xây dựng chính sách hình sự về loại tội phạm này. Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả được quy định tại Điều 180 Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) hiện hành. Tuy nhiên khái niệm về làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả chưa có một văn bản pháp lý nào đưa ra khái niệm về những hành vi này. Theo Từ điển tiếng Việt "làm" có nghĩa là: dùng công sức tạo ra cái trước đó không có [29, tr.
518]; "tàng trữ" có nghĩa là: cất giữ một khối lượng [29, tr. 858]; "vận chuyển" có nghĩa là: Mang chuyển đồ vật từ nơi này đến nơi khác, bằng phương tiện hoặc bằng sức [29, tr. 1067]; "lưu hành" có 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghĩa là: Đưa ra sử dụng rộng rãi từ người này, nơi này qua người khác, nơi khác trong xã hội [29, tr. Theo quan điểm của ThS.
Đinh Văn Quế thì "Làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả là hành vi làm ra, cất giữ, vận chuyển, sử dụng, trao đổi, mua bán các loại tiền giả, ngân phiếu giả và công trái giả" [30, tr. Từ các khái niệm và quan điểm trên đây, có thể đưa ra một định nghĩa khoa học về tội "làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả" là hành vi làm ra, cất giữ, vận chuyển, sử dụng, trao đổi, mua bán các loại tiền giả, ngân phiếu giả và công trái giả không phải do cơ quan, Nhà nước Việt Nam phát hành hoặc nước ngoài phát hành có giá trị thanh toán tại Việt Nam. PHÂN BIỆT TỘI LÀM, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, LƯU HÀNH TIỀN GIẢ, NGÂN PHIẾU GIẢ, CÔNG TRÁI GIẢ VỚI MỘT SỐ TỘI PHẠM KHÁC TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Phân biệt tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả với tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả và tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác là hai tội phạm được tách từ tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ quy định tại Điều 98 Bộ luật hình sự năm 1985.
Trước đây tội phạm này được coi là tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia. Nay, Bộ luật hình sự năm 1999, Luật sửa đổi bổ sung một số điều Bộ luật hình sự năm 2009 quy định tội phạm này tại chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế. Tuy là được tách ra cùng một tội, nhưng giữa hai tội này có nhiều sự khác biệt cơ bản. Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả và Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khác là hai tội độc lập quy định tại Điều 180 và Điều 181 Bộ luật hình sự năm 1999 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2009.
Trước đây, hai tội phạm này được quy định chung trong một điều luật Điều 98 Bộ luật hình sự năm 1985 "tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ". Về tên gọi, Điều 98 Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ thể hiện các hành vi phạm tội làm, tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ, nhưng về nội dung của điều luật thì khoản 1 lại nêu rõ: "Người nào làm, tàng trữ, lưu hành tiền giả, séc giả, phiếu công trái giả hoặc phá hủy tiền tệ thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm" [31]. Đối tượng của tội phạm được quy định ở tên tội danh chỉ là tiền gồm: tiền giả và tiền thật, nhưng đối tượng của tội phạm được liệt kê ở nội dung của điều luật lại bao gồm cả séc giả, phiếu công trái giả. Như vậy, ở đây thiếu sự thống nhất giữa tên tội danh và nội dung của điều luật.
Hơn nữa tính chất của hành vi làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả nguy hiểm cho xã hội cao hơn hành vi làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả nên việc Bộ luật hình sự năm 1999 tách Điều 98 Bộ luật hình sự năm 1985 thành hai tội khác nhau với khung hình phạt khác nhau ở Điều 180 và 181 là có cơ sở pháp lý.