Chương I TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Lịch sử hình thành và phát triển của các quy phạm pháp luật hình sự Việt nam về tội cướp giật tài sản 1. Giai đoạn trước năm 1999 Ngay từ những ngày đầu mới giành độc lập, Nhà nƣớc Việt nam dân chủ cộng hoà ta vừa phải đối phó với thù trong giặc ngoài, vừa từng bƣớc quản lý, xây dựng đất nƣớc. Để tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động ổn định trật tự, an ninh chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh với tƣ cách là ngƣời đứng đầu nhà nƣớc đã ký sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 cho phép áp dụng một số văn bản của pháp luật cũ không trái với nguyên tắc độc lập của nƣớc Việt nam và chính thể dân chủ cộng hoà.
Nhƣ vậy pháp luật của chế độ cũ đƣợc áp dụng theo tinh thần của nhà nƣớc dân chủ mới, Hoàng Việt hình luật đƣợc áp dụng ở Bắc kỳ và luật pháp tu chính đƣợc áp dụng ở Nam Kỳ. Bên cạnh đó, Nhà nƣớc ta cũng đã từng bƣớc ban hành những văn bản pháp luật mới quy định những hành vi nguy hiểm cho xã hội và các chế tài áp dụng đặc biệt là những hành vi xâm phạm đến sở hữu của nhà nƣớc và sở hữu của công dân, góp phần bảo vệ các quan hệ xã hội tiến bộ trong xã hội mới. Tuy còn mới sơ khai nhƣng pháp luật hình sự thời kỳ này đã khái quát, nhận diện đƣợc những hành vi xâm hại sở hữu trong thực tế và có các quy định thành các tội phạm cụ thể làm cơ sở pháp lý cho cơ quan toà án xét xử. Đồng thời các văn bản này còn quy định chế tài cụ thể và đƣờng lối xử lý các tội phạm cụ thể xâm phạm sở hữu.
Trong giai đoạn này, tội cƣớp giật tài sản đƣợc quy định thành hai tội riêng biệt căn cứ vào đối tƣợng bị xâm hại là tài sản thuộc sở hữu XHCN hay tài sản thuộc sở hữu riêng của công dân. Cụ thể, tội Cƣớp giật tài sản đã đƣợc quy định trong hai Pháp lệnh ngày 21.1970 của Uỷ ban thƣờng vụ Quốc Hội. Đến lần pháp điển hoá Bộ luật hình sự lần thứ nhất, Bộ luật hình sự của Nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1985 (BLHS năm 1985) đã đƣợc Quốc Hội thông qua vào ngày 27/6/1985, có hiệu lực từ ngày 1/1/1986 trên toàn quốc cũng quy định về tội cƣớp giật tài sản nhƣ sau: Điều 131 quy định: 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Ngƣời nào cƣớp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản XHCN, nếu không thuộc trƣờng hợp quy định ở điều 129, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.
Phạm tội thuộc một trong các trƣờng hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mƣời hai năm: a. Có tổ chức hoặc có tính chuyên nghiệp. Dùng thủ đoạn nguy hiểm; hành hung để tẩu thoát. Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác.
Tái phạm nguy hiểm. Phạm tội trong trong trƣờng hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mƣời năm đến 20 năm” Điều 154 quy định: “1. Ngƣời nào cƣớp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác, nếu không thuộc trƣờng hợp quy định ở Điều 151, thì bị phạt tù từ ba tháng đến 3 năm. Phạm tội thuộc một trong các trƣờng hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến 10 năm: a.
Có tổ chức hoặc có tính chuyên nghiệp. Dùng thủ đoạn nguy hiểm; hành hung để tẩu thoát. Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác. Tái phạm nguy hiểm.
Phạm tội trong truờng hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến hai mƣơi lăm năm” - Về hình phạt:Tƣ tƣởng chỉ đạo giai đoạn này là chú trọng bảo vệ tài sản chung (tài sản XHCN) hơn tài sản riêng (tài sản tƣ nhân). Trƣớc khi có BLHS năm 1985, các hình phạt không đƣợc quy định tập trung, sắp xếp theo một trật tự nhất định và cũng không có tiêu chí đánh giá, áp dụng thống nhất. Đến khi BLHS năm 1985 ra đời, một hệ thống hình phạt và tiêu chí áp dụng nó tƣơng đối đầy đủ mới đƣợc quy định tập trung, thống nhất. Điều này đã thể hiện đƣợc mục đích của Nhà nƣớc ta không chỉ dùng hình phạt về hình sự để trừng trị, mà còn nhằm giáo dục, cải tạo và răn đe ngƣời khác.
So với hai Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN và trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân thì BLHS năm 1985 có mức phạt tối đa cao hơn. Ở 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com BLHS năm 1985, mức phạt tối đa 1à 15 năm với tội cƣớp giật tài sản riêng công dân và 20 năm với tội cƣớp giật tài sản XHCN. Mức hình phạt tối thiểu là một năm với tội cƣớp giật tài sản XHCN và 3 tháng với tội cƣớp giật tài sản riêng của công dân là tƣơng đƣơng với hai Pháp lệnh năm 1970. Điều này thể hiện đƣờng lối xử lý nghiêm khắc hơn của Nhà nƣớc ta với tội cƣớp giật tài sản so với giai đoạn trƣớc.
Thay vì có 2 khung hình phạt ở hai pháp lệnh năm 1970, BLHS năm 1985 quy định 3 khung hình phạt và đối với các tình tiết định khung tăng nặng, thì tại 2 điều 131 và 154 còn quy định thêm hai tình tiết mới là “dùng thủ đoạn nguy hiểm” và “chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác”. Khung 3 quy định chung các trƣờng hợp phạm tội có tính chất đặc biệt nghiêm trọng. Đối với tội cƣớp giật tài sản ngoài hình phạt chính còn có thể áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 2 và 3 Điều 142; khoản 2,3 Điều 163 BLHS năm 1985 bao gồm hình phạt quản chế hoặc cấm cƣ trú từ một năm đến năm năm hay bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. - Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Cùng với sự ra đời của Bộ luật hình sự năm 1985, các quy định về tình tiết tăng nặng (điều 39), tình tiết giảm nhẹ (điều 38) cũng lần đầu tiên đƣợc quy định tập hợp và tƣơng đối đầy đủ làm tiêu chí khi quyết định hình phạt.
Đây là một cố gắng lớn của nhà làm luật nƣớc ta để tạo sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật hình sự, tránh sự tùy tiện hoặc áp đặt ý chí chủ quan của ngƣời Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân khi xét xử. Hầu hết các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trong 2 Pháp lệnh năm 1970 đã đƣợc giữ lại và bổ sung thêm rất nhiều tình tiết mới. Ngoài ra, Tòa án nhân dân Tối cao còn có các hƣớng dẫn nghiệp vụ về một số tình tiết khác cũng đƣợc coi là tình tiết giảm nhẹ nhƣ: ngƣời phạm tội đầu thú, gia đình bị cáo đã bồi thƣờng thiệt hại, khắc phục hậu quả thay cho bị cáo. Ngày 28/12/1989, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1985, trong đó bổ sung thêm một tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với ngƣời “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” vào điểm a khoản 2 của các điều luật quy định về tội cƣớp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản.
Tuy nhiên, thời điểm này chƣa có hƣớng dẫn cụ thể về tình tiết này mà chỉ có lời kết luận của Chánh án Toà án nhân dân Tối cao tại hội nghị tổng kết công tác ngành 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Toà án năm 1991 hƣớng dẫn về “phạm tội có tính chuyên nghiệp”là trƣờng hợp: Ngoài bọn lƣu manh chuyên nghiệp ra, ngƣời thực hiện một hay nhiều tội cùng loại (thuộc nhóm khách thể) những tội phạm lặp đi lặp lại nhiều lần hoặc phạm rất nhiều tội (không kể là loại tội gì) lấy đó làm nguồn thu nhập chính hoặc nghề sống chính thì đều coi là “có tính chất chuyên nghiệp”. Đến nay, khái niệm “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” đã đƣợc hƣớng dẫn cụ thể tại Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao. Theo đó, ngƣời phạm tội phải có đủ hai điều kiện: cố ý phạm tội từ 5 lần trở lên về cùng một tội phạm không phân biệt đã bị truy cứu TNHS hay chƣa bị truy cứu TNHS, nếu chƣa hết thời hiệu truy cứu TNHS hoặc chƣa đƣợc xóa án tích và họ lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính. Nguyên tắc xử lý quy định trong BLHS năm 1985 nói chung không có gì thay đổi so với Pháp lệnh năm 1970.
Theo điều 3 BLHS năm 1985 thì mọi hành vi phạm tội nói chung và hành vi xâm phạm sở hữu phải đƣợc phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật. Cơ sở của TNHS là chỉ ngƣời nào phạm một tội đã đƣợc luật hình sự quy định mới phải chịu TNHS. Nhƣ vậy, chúng ta không thể truy cứu TNHS một ngƣời nếu hành vi của họ không đƣợc luật hình sự quy định là tội phạm. Khi phát hiện hành vi xâm phạm sở hữu phải đƣợc xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật, bất kỳ ai có hành vi xâm phạm sở hữu đều bị xử lý.
Nghiêm trị kẻ chủ mƣu, cầm đầu, chỉ huy, kẻ ngoan cố chống đối, lƣu manh, côn đồ, tái phạm, kẻ biến chất sa đoạ, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội, kẻ phạm tội có tổ chức, gây hậu quả nghiêm trọng. Khoan hồng với ngƣời tự thú, thật thà khai báo, tố giác đồng bọn, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thƣờng thiệt hại đã gây ra. Giai đoạn sau năm 1999 Nhìn chung quy định về tội cƣớp giật tài sản trong pháp luật hình sự tƣơng đối ổn định. Qua lần pháp điển hoá BLHS lần thứ nhất và trải qua 3 lần sửa đổi, bổ sung vào các ngày 12/8/199l, 22/12/1992 và ngày 10/5/1997, tội cƣớp giật tài sản trong pháp luật hình sự nƣớc ta không có gì thay đổi.
Xuất phát từ yêu cầu của xã hội, cùng sự phát triển với tốc độ nhanh chóng của tội phạm khi đất nƣớc ta chuyển đổi sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần phát 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com triển theo cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của nhà nƣớc, theo định hƣớng XHCN. Để đảm bảo và thực hiện sự bình đẳng của các thành phần kinh tế đòi hỏi Nhà nƣớc ta phải có quan niệm bình đẳng về vấn đề sở hữu chung và sở hữu riêng.