Chương 1: TO CHỨC CUA HỘI DOAN KET SƯ SAI YEU NƯỚC TINH VINH LONG 1. Khái quát về tỉnh Vĩnh Long 1. Vi trí địa lý Vĩnh Long là tỉnh nằm ở trung tâm châu thé đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), thuộc vùng giữa sông Tiền - sông Hậu, cách thành phố Hồ Chí Minh 136 km với tọa độ địa lý từ 9° 52' 45" đến 10° 19' 50" vĩ độ Bắc và từ 104° 41' 25" đến 106° 17' 00" kinh độ Đông. Vị trí giáp giới như sau: Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Tiền Giang và Bến Tre.
Phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng. Phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Trà Vinh. Phía Tây Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp. Vĩnh Long nằm trong vùng ảnh hưởng của địa bàn trọng điểm phía Nam; ở giữa hai trung tâm kinh tế quan trọng là thành phố Cần Thơ và thành phố Hồ Chí Minh.
Chính nơi đây vừa là trung tâm kinh tế - khoa học kỹ thuật - văn hóa - quốc phòng, vừa là thị trường lớn sẽ có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, trong đó có liên quan chặt chẽ đến việc quan lý, phân bố sử dụng dat dai. Đặc biệt là khả năng chi phối của Trung tâm ứng dụng khoa hoc công nghệ của Thành phố Cần Thơ (Trường Đại học Cần Thơ, Viện lúa ĐBSCL, khu Công nghiệp Trà Noc.) và Trung tâm cây ăn trái miền Nam (Tiền Giang), là một trong những lợi thế đặc biệt của Vĩnh Long trong sự phát triển kinh tế ở hiện tại và tương lai. Mặt khác đây là vùng có tiềm năng về phát triển du lịch xanh với sinh cảnh sông nước, nhà vườn. Đồng thời với hệ thống giao thông thủy bộ phát triển ngày càng hoàn thiện, Vĩnh Long với vị trí địa ly có nhiều lợi thế như đã nêu trên sẽ tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội theo các hướng trục giao thông thủy, bộ đã được quy hoạch của tỉnh.
Điều kiện tự nhiên Vĩnh Long nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, quanh năm nóng ẩm, có chế độ nhiệt tương đối cao và bức xạ dồi dào, là điều kiện tiền đề cho sự phát triển nông nghiệp toản diện. So với các tỉnh ĐBSCL, khí hậu Vĩnh Long khá thuận lợi cho nông nghiệp theo hướng đa canh, thâm canh tăng vụ. Tuy nhiên, do lượng mưa phân bé không đều, nhiều tháng bị ngập ung ở những nơi có địa hình thấp trũng làm hạn chế và gây thiệt hại đối với sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng đến đời sống cộng đồng và môi trường khu vực. Trên địa bàn tỉnh có 02 hệ thống sông rạch chính là sông Tiền và sông Hậu (sông Cổ Chiên là nhánh của sông Tiền) có tổng chiều dài 79 km; mạng lưới kênh rạch chính và cấp I là 114km; mạng lưới kênh rạch nội đồng 1.
Sông C6 Chiên là chi lưu của sông Tiền, có chiều dài 74 km, đoạn chảy qua Vĩnh Long có chiều dài 42 km, mặt cắt sông rộng trung bình 1.700m, độ sâu 7-10 m, lưu lượng dao động từ 1. Sông Tiền: chảy qua địa bàn tỉnh Vĩnh Long khoảng 12km (phía Bắc của huyện Long Hồ và thành phố Vĩnh Long). Sông Hậu: là nhánh lớn thứ 2 của sông Mê Kông chảy qua địa phận Việt Nam với chiều dài khoảng 195km, đoạn sông đi qua Vĩnh Long có chiều đài 37km, rộng 1,2km, sâu 4-10m lưu lượng bình quân dao động từ 1. Sông Mang Thít là sông lớn nhất nằm gọn trên địa phận tỉnh Vĩnh Long, nối từ sông Tiền tới sông Hậu.
Sông dài khoảng 50km, rộng từ 110 - 250m, sâu 9 -11m. Một số sông khác có kích thước tương đối lớn chảy ra sông Tiền va sông Hậu: Sông Cái Đôi, Cái Côn, Cái Cam dé ra sông Cổ Chiên; Sông Trà Mơn, Tân Quới, Cái Vồn đồ ra sông Hậu. Do bị chi phối bởi dong chảy của sông Tiền, sông Hậu, thủy triều biển Đông và chế độ mưa hàng năm. Thủy triều Biển Đông ảnh hưởng trực tiếp đến 2 nhánh sông chính (sông Cổ Chiên và sông Hậu) là chế độ bán nhật triều không đều, mỗi tháng có 2 kỳ triều cường và triều kém.
Một ngày có 2 đỉnh 12 và 2 chân triều, biên độ triều cường lớn nhất 4m vào các tháng 12, 1 và nhỏ nhất 2,5 mét ở các tháng 3, 4. Thủy triều Biển Đông đã đưa nước mặn xâm nhập sâu vảo trong nội địa qua hệ thống sông, rạch. Hàng năm nước sông Tiền và sông Hậu dâng cao tran sâu vào đất liền gây ra lũ bắt đầu từ tháng 8, 9 và kết thúc vào tháng 11, 12. Số liệu đài khí tượng thủy văn Vĩnh Long cho thấy mức nước cao nhất năm 1994 là 2,03 mét ; năm 1978 là 2,01 mét tại trạm Mỹ Thuận và cao nhất năm 1997 là 2,24 mét tại Cần Thơ.
Mức nước ngập sâu bình quân tại các vùng ven sông Tiền, sông Hậu và các cu lao từ 0,3 - 0,6 mét; ở các vùng trung tâm, vung tring là 0,3 -1,0 mét. Lũ đã bù đắp thêm phù sa cho vùng ngập, đem đến nhiều cá, tôm tự nhiên, song cũng là trở ngại cho sản xuất và nuôi trồng thủy sản. Mùa lũ từ tháng 7-12, mực nước trên sông ngòi, kênh rạch dâng cao và thời gian này mưa nhiều, gây ngập nhiều vùng. Thời điểm có mực nước lớn và độ ngập cao nhất vào tháng 10, các nơi trũng hơn thì ngập hết tháng 12.
Phân bố ngập úng và lũ khác nhau ở các khu vực khác nhau trong tỉnh. Đặc điểm dân cư Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Long, tính đến ngày 01/4/2019. Dân số toàn tỉnh có 1.791 người, trong đó DTTS có 26.596 nguoi, chiếm 2,6% dân số toàn tỉnh. Cũng như nhiều tỉnh ở ĐBSCL, Vĩnh Long là tỉnh có cơ cấu da dân tộc, ngoài người Kinh, có 19 dân tộc thiểu số sinh sống.
Trong đó, người Khmer 22.630, người (chiếm 2,21%); Hoa 3. Dân tộc Kinh lập cư ở các vùng đất phù sa ven sông, ven kênh rạch, hoặc tuyến đường giao thông, hoạt động kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, một số ít làm nghề tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ và đa số có mức thu nhập trung bình khá. 13 Dân tộc Hoa sinh sống đan xen với các dân tộc trên địa bàn và tập trung sống ở những khu thương mại gắn với việc sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo tại các ngôi chùa thờ ông Bồn, Quan Thế Âm Bồ Tát nhưng tập trung đông nhất ở thành phó Vĩnh Long, phường Cái Vồn (thị xã Bình Minh), thị trấn Trà Ôn (huyện Trà Ôn), thị tran Vũng Liêm (huyện Vũng Liêm).gồm 5 bang: Phúc Kiến, Triều Châu (Tiéu), He, Quang Đông, Hải Nam. Người Hoa sống bằng nghề mua bán dịch vụ, cơ sở sản xuất của người Hoa ở mức độ vừa và nhỏ.
Người Hoa có nhiều kinh nghiệm và nhạy bén nắm bắt thông tinh kinh tế, thị trường, cung cách làm ăn năng động, tập trung vào một số ngành, nghề như: thuốc Bắc, mua bán tạp hóa, sản xuất bánh kẹo, quán ăn uống, cơ khí hàn tiện, hột vịt muối, phần lớn người Hoa đều khá, hộ nghèo chiếm tỉ lệ rất thấp. Đặc biệt, người Hoa có mối quan hệ với người Hoa ở một số nước thông qua tổ chức hội đoàn bởi yếu tố đồng tộc, đồng tôn, kinh tế, thương mại. Một bộ phận đồng bào Hoa vẫn còn tư tưởng chưa nhận mình là dân tộc thiểu số ở Việt Nam, vẫn xem đất nước Trung Quốc là Tổ quốc của mình. Đồng bào Khmer có tiếng nói và chữ viết khá hoàn chỉnh với nền văn hóa khá phong phú và đa dạng, đời sống dân cư, sinh hoạt truyền thống, các lễ hội của đồng bào Khmer gắn liền với PGNT.
PGNTK là hệ phái nguyên thủy mang tính biệt truyền, đồng hành cùng dân tộc Khmer từ xa xưa, tạo nên bản sắc văn hóa đặc thù. Ngoài sinh hoạt tôn giáo truyền thống, từng ngôi chùa còn là trung tâm giáo dục, văn hóa, sinh hoạt cộng đồng. PGNTK có hai hệ phái: hệ phái Mahanikai (thuộc giới bình dân, chiếm đa số) và phái Thommadút (thuộc giới quý tộc); hai hệ phái này cơ bản tương đồng nhau, không có khoảng cách hoặc đặc điểm khác nhau. Tổ chức xã hội của đồng bào Khmer là một tổ chức xã hội Phật giáo, mỗi phum, sóc của người Khmer ít nhất cũng có một ngôi chùa, dù cuộc sống của người Khmer nơi đây còn nhiêu khó khăn nhưng những ngôi chùa đêu rât 14 khang trang, lộng lẫy.
Đồng bào Khmer sống hoạt động theo những quy định của phong tục tập quán, đó là những “đám phước” là một hình thức tô chức lễ chịu sự ảnh hưởng của giáo lý Phật giáo Nam tông, điều này thể hiện ở việc họ tô chức lễ tại nhà hoặc đến chùa để tích phước đức cho mai sau. PGNTK là một bộ phận quan trọng trong di sản văn hóa dân tộc với những giáo lý đạo đức mang tính nhân văn và ảnh hưởng sâu sắc trong đạo đức, tâm lý, lối sống của người Khmer. Người Khmer xem Sư sãi như là hiện thân của Đức Phật nên rất kính trọng, luôn tin tưởng gửi gắm tình cảm, tâm tư, nguyện vọng và làm theo sự chỉ dẫn của sư sãi. Hơn nữa, sư sãi là người đại diện cho từng chùa, từng phum, sóc nên thường xuyên có mối quan hệ với cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thê chính trị - xã hội ở địa phương.
Với vai trò quan trọng như vậy nên PGNTK luôn có ảnh hưởng trực tiếp, thậm chí quyết định đến tính chất tích cực hay tiêu cực của mọi hoạt động tôn giáo và sự đồng hành hay không đồng hành của GHPGVN với dân tộc, với đất nước và với chủ nghĩa xã hội. Sư sãi phần lớn xuất thân từ nông dân lao động: là lớp người trí thức đại diện cho dân tộc, có vai trò to lớn trong đời sống tỉnh thần của đồng bào Khmer; cuộc sống của Sư sãi luôn gần gũi, găn bó với cộng đồng phum, sóc. Việc vào chùa tu của thanh niên Khmer được cộng đồng người Khmer nhìn nhận như là nghĩa vụ và là vinh dự trong đời người. Trong đời sống tôn giáo, Sư sãi là hình tượng tôn kính đối với đồng bào Khmer - Người hướng dẫn, chăm lo đời sống tín ngưỡng, tôn giáo cho tín đồ; trong hoạt động quản đạo, là người điều hành nền hành chính đạo; và trong hoạt động truyền đạo Sư sãi là trụ cột dé phát triển tín đồ.
Dân số toàn tỉnh Vĩnh Long khoảng 1.791 người, trong đó đồng bào DTTS hơn 26,5 ngàn người. Riêng đồng bào Khmer có khoảng 22 ngàn 15 người, chiếm tỉ lệ hơn 2% dân số toản tỉnh.