Nghiên cứu tổng hợp TiO2-Bentonit để xử lý phẩm màu DB71 trong nước - Đại học Quốc gia Hà Nội

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu tổng hợp đặc trưng cấu trúc vật liệu ns tio2bentonit và fens tio2bentonit để xử lý phẩm, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Hóa môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2016

62
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

2. TỔNG QUAN VỀ CÁC HỢP CHẤT MÀU AZO VÀ PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ

3. VẬT LIỆU TiO2 VÀ TiO2 BIẾN TÍNH

4. BENTONIT VÀ BENTONIT CHỐNG TiO2 BIẾN TÍNH

5. TỔNG HỢP VẬT LIỆU

6. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐẶC TRƯNG CẤU TRÚC VẬT LIỆU

7. PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ QUANG XÚC TÁC

8. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu TiO2 Bentonit xử lý phẩm màu DB71

Nghiên cứu TiO2-Bentonit trong xử lý phẩm màu DB71 đang thu hút sự chú ý của nhiều nhà khoa học. TiO2, một chất xúc tác quang học, có khả năng phân hủy các hợp chất hữu cơ độc hại. Bentonit, với cấu trúc đặc biệt, có thể cải thiện hiệu suất của TiO2. Sự kết hợp này hứa hẹn mang lại giải pháp hiệu quả cho vấn đề ô nhiễm môi trường nước.

1.1. TiO2 và Bentonit Đặc điểm và ứng dụng

TiO2 là một trong những vật liệu phổ biến trong xử lý nước thải nhờ vào khả năng quang xúc tác. Bentonit, với khả năng hấp phụ tốt, có thể tăng cường hiệu quả của TiO2 trong việc xử lý phẩm màu DB71.

1.2. Phẩm màu DB71 Tác động đến môi trường

Phẩm màu DB71 là một trong những chất nhuộm azo phổ biến trong ngành dệt nhuộm. Sự tồn tại của nó trong nước thải có thể gây ra nhiều vấn đề về sức khỏe và môi trường, do đó việc xử lý triệt để là rất cần thiết.

II. Vấn đề ô nhiễm từ phẩm màu DB71 và thách thức trong xử lý

Ô nhiễm từ phẩm màu DB71 đang trở thành một thách thức lớn trong ngành công nghiệp dệt nhuộm. Các hợp chất azo bền vững, như DB71, khó phân hủy sinh học và có thể tích lũy trong môi trường. Điều này đòi hỏi các phương pháp xử lý hiệu quả hơn.

2.1. Tác động của phẩm màu đến sức khỏe con người

Phẩm màu DB71 có thể gây ra nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, bao gồm ung thư và các bệnh về hệ thần kinh. Việc xử lý hiệu quả là cần thiết để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

2.2. Thách thức trong việc xử lý phẩm màu

Các phương pháp xử lý truyền thống thường không hiệu quả với các hợp chất azo. Do đó, cần nghiên cứu và phát triển các phương pháp mới, như sử dụng TiO2-Bentonit, để nâng cao hiệu quả xử lý.

III. Phương pháp nghiên cứu TiO2 Bentonit trong xử lý DB71

Nghiên cứu sử dụng TiO2-Bentonit trong xử lý phẩm màu DB71 đã được thực hiện qua nhiều phương pháp khác nhau. Các phương pháp này bao gồm tổng hợp vật liệu, đánh giá hiệu suất và phân tích kết quả.

3.1. Tổng hợp vật liệu TiO2 Bentonit

Quá trình tổng hợp vật liệu TiO2-Bentonit bao gồm việc kết hợp TiO2 với Bentonit để tạo ra một chất xúc tác hiệu quả hơn trong việc xử lý phẩm màu DB71.

3.2. Đánh giá hiệu suất xử lý

Hiệu suất xử lý phẩm màu DB71 được đánh giá thông qua các chỉ tiêu như tỷ lệ phân hủy, thời gian xử lý và khả năng tái sử dụng của chất xúc tác.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn của TiO2 Bentonit

Kết quả nghiên cứu cho thấy TiO2-Bentonit có khả năng xử lý phẩm màu DB71 hiệu quả. Các thí nghiệm cho thấy tỷ lệ phân hủy cao và khả năng tái sử dụng tốt, mở ra hướng đi mới trong xử lý nước thải.

4.1. Hiệu suất phân hủy DB71

Các thí nghiệm cho thấy TiO2-Bentonit có thể phân hủy đến 90% phẩm màu DB71 trong thời gian ngắn, cho thấy tiềm năng ứng dụng cao trong xử lý nước thải.

4.2. Ứng dụng trong thực tiễn

TiO2-Bentonit có thể được ứng dụng trong các nhà máy dệt nhuộm để xử lý nước thải, giúp giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ môi trường.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu TiO2 Bentonit

Nghiên cứu TiO2-Bentonit trong xử lý phẩm màu DB71 đã mở ra nhiều triển vọng mới. Việc cải thiện hiệu suất và khả năng tái sử dụng của chất xúc tác sẽ là hướng đi quan trọng trong tương lai.

5.1. Kết luận về hiệu quả xử lý

TiO2-Bentonit đã chứng minh được hiệu quả trong việc xử lý phẩm màu DB71, góp phần giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường nước.

5.2. Triển vọng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc tối ưu hóa quy trình tổng hợp và mở rộng ứng dụng của TiO2-Bentonit trong các lĩnh vực khác nhau.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CÁC HỢP CHẤT MÀU AZO VÀ PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ 1. Tổng quan về các hợp chất màu azo Hợp chất màu azo là những hợp chất màu tổng hợp có chứa nhóm azo –N=N–. Hầu hết các loại hợp chất màu azo chỉ chứa một nhóm azo (gọi là monoazo), một số ít chứa hai nhóm hoặc nhiều hơn.

Hợp chất azo thường có chứa một vòng thơm liên kết với nhóm azo và nối với một naphtalen hay vòng benzen thứ hai. Sự khác nhau giữa các hợp chất azo chủ yếu ở vòng thơm, các nhóm quanh liên kết azo giúp ổn định nhóm –N=N– bởi chính những nhóm này tạo nên một hệ thống chuyển động, là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới màu sắc của hợp chất azo [11, 14, 15]. Hợp chất màu azo bền hơn tất cả các phẩm màu tự nhiên. Đặc biệt, phẩm màu azo bền trong phạm vi pH khá rộng, bền với nhiệt khi phơi dưới ánh sáng và oxy, rất khó bị phân hủy bởi các vi sinh vật.

Chính vì vậy, các hợp chất màu azo được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp như giấy, cao su, nhựa, da, mỹ phẩm, dược phẩm và đặc biệt là công nghiệp dệt nhuộm. Thông thường trong quá trình nhuộm, các phẩm màu không bám dính hết vào sợi vải, nên sau công đoạn nhuộm, trong nước thải thường tồn dư một lượng nhất định, thậm chí lên tới 50% tổng lượng phẩm màu được sử dụng ban đầu. Đây là thành phần rất khó xử lý, đặc biệt là phẩm màu họ azo, chiếm tới 60 - 70% thị phần, đang được sử dụng phổ biến nhất hiện nay [15, 22, 146]. Các loại phẩm nhuộm tổng hợp có chứa các nhóm mang màu azo đã có từ lâu đời và ngày càng được sử dụng phổ biến do có đặc điểm là dễ sử dụng, giá thành rẻ, ổn định và đa dạng về màu sắc so với màu sắc tự nhiên [36, 49].

Tuy nhiên, việc sử dụng rộng rãi thuốc nhuộm và các sản phẩm của chúng gây ra ô nhiễm nguồn nước ảnh hưởng tới sức khỏe của con người và môi trường sinh thái.000 tấn phẩm nhuộm được thải ra trên toàn thế giới [70, 104]. Phẩm nhuộm azo chiếm khoảng 70% lượng phẩm nhuộm được sử dụng [120], và là nhóm phổ biến nhất của chất màu tổng hợp thải vào môi trường [37, 104, 142]. Chỉ cần một lượng rất nhỏ phẩm nhuộm trong nước (ít hơn 1 ppm) đã có thể gây ra một sự thay đổi màu dễ nhận thấy [21]. Thêm vào đó, nước thải này còn gây 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ra một số tác động độc hại như ung thư, đột biến gen cho con người [6, 7, 25, 29, 86, 87, 111].

Nước thải dệt nhuộm cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái thủy sinh, giảm việc hấp thu ánh sáng và không khí trong hồ [21, 87, 103]. Phẩm nhuộm azo có thể bị phân hủy thành các amin, và thường là các amin có chứa vòng benzen hay naphtalen. Đây là các hợp chất có khả năng gây ung thư. Tác động lên thực vật Thành phần thuốc nhuộm hòa tan trong nước thải công nghiệp dệt nhuộm làm thay đổi tình trạng hóa học và sinh học của đất và nước, có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng và năng suất của cây trồng.

Một số thuốc nhuộm được sử dụng trong ngành công nghiệp nhuộm thậm chí còn làm giảm tỷ lệ hạt nảy mầm và phát triển của cây trồng [94]. Nồng độ cao của nước thải chưa qua xử lý, ức chế sự phát triển của chồi và rễ cây… Nồng độ cao của chất rắn trong nước thải làm giảm mức độ oxy hòa tan, dẫn đến hạn chế sự tăng trưởng và phát triển của cây giống. Sự ức chế nảy mầm có thể là do các chất rắn hòa tan cao trong nước thải ảnh hưởng tới các mối quan hệ thẩm thấu của hạt giống [107]. Ngoài ra trong quá trình vận chuyển, thuốc nhuộm còn sa lắng hay hấp phụ lên bùn, trầm tích.

Đất nông nghiệp sử dụng bùn này có thể làm gia tăng lượng thuốc nhuộm thâm nhập vào đất / nước ngầm, do đó ảnh hưởng đến tăng trưởng của cây trồng [102]. Tác động trên các loài động vật thủy sinh Khi đi vào nguồn nước tự nhiên như sông, hồ… với một lượng rất nhỏ của thuốc nhuộm đã làm thay đổi màu sắc và chất lượng của nguồn nước và được chứng minh là gây hại cho sinh vật dưới nước [41]. Màu đậm của nước thải cản trở sự hấp thụ oxy và ánh sáng mặt trời gây tác hại cho sự hô hấp, sinh trưởng của các loài thủy sinh, làm tác động xấu đến khả năng phân giải của vi sinh đối với các chất hữu cơ trong nước thải. Đối với cá và các loài thủy sinh, các kết quả thử nghiệm trên cá của hơn 3.000 loại thuốc nhuộm nằm trong tất cả các nhóm từ không độc, độc vừa, rất độc đến cực độc cho thấy có khoảng 37% loại thuốc nhuộm gây độc cho cá và thủy sinh, khoảng 2% thuộc loại rất độc và cực độc [6].

Tích tụ sinh học của thuốc nhuộm phụ thuộc vào các đặc tính hóa lý và sự tích lũy lâu dài của chúng trong nước, thực phẩm. Hàm lượng protein của thịt, gan, mang và ruột giảm với việc tăng nồng độ thuốc nhuộm trong nước thải dệt nhuộm [16]. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tác động đối với con người Đối với con người, thuốc nhuộm có thể gây ra các bệnh về da, đường hô hấp, đường tiêu hóa. Ngoài ra, một số thuốc nhuộm hoặc chất chuyển hóa của chúng rất độc hại, có thể gây ung thư (như thuốc nhuộm Benzidin, 4-amino-azo-benzen).

Các nhà sản xuất Châu Âu đã cho ngừng sản xuất các loại thuốc nhuộm này nhưng trên thực tế chúng vẫn được tìm thấy trên thị trường, do giá thành rẻ và hiệu quả nhuộm màu cao [61]. Tác động của thuốc nhuộm azo và các sản phẩm phân hủy của chúng trên sức khỏe con người đã gây ra lo ngại trong nhiều năm, mặc dù đã có pháp luật kiểm soát việc sử dụng ở một số nước. Các hợp chất màu azo độc hại từ nước thải dệt nhuộm đi vào sinh vật dưới nước, đi qua chuỗi thức ăn và cuối cùng đến con người và gây ra các rối loạn sinh lý khác nhau như cao huyết áp, sốt thường xuyên, tổn thương thận, chuột rút, vv… Một số thuốc nhuộm azo có thể gây ung thư bàng quang ở người, biến đổi nhiễm sắc thể trong tế bào động vật có vú, gây đột biến, gây ung thư và gây quái thai. Tác nhân gây ung thư, gây đột biến và gây quái thai có thể là chính phẩm nhuộm hoặc chất được chuyển hóa từ phẩm nhuộm nhờ quá trình trao đổi chất.

Các chất này có khả năng tương tác với ADN, gây tổn hại nó. Đối với các phẩm nhuộm hòa tan được trong nước, các sản phẩm chuyển hóa của chúng đều là tác nhân gây ung thư [30, 62]. Cơ chế cắt liên kết azo trong tế bào [31] 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thuốc nhuộm azo trở nên độc hại hơn sau khi có sự khử và phân tách của mối liên kết azo để tạo thành các amin thơm, chủ yếu là thông qua vi khuẩn kỵ khí trong ruột. Khi có mặt các amin gây hại, nguyên tử sắt trong nhóm heme của hemoglobin bị oxi hoá từ Fe(II) thành Fe(III), kết quả là chúng không còn khả năng vận chuyển oxy nữa.

Điều này dẫn đến các triệu chứng đặc trưng như xanh tím môi, mũi, yếu và chóng mặt. Sự phát triển của bệnh sau khi bị nhiễm thường xảy ra chậm; có thể sau hàng giờ triệu chứng mới được phát hiện như nhức đầu, mặt tái xanh khi mức độ hemoglobin bị khử tăng tới 15%, ở mức 40% sức khoẻ kém, hoa mắt chóng mặt thường xảy ra, lớn hơn 70% hôn mê và có thể gây tử vong. Sau khi phân cắt liên kết azo, các amin thơm tạo ra sẽ được hấp thu ở ruột và bài tiết qua nước tiểu [31]. Amin thơm bao gồm hai hoặc nhiều vòng thơm liên hợp có tiềm năng gây ung thư cao, là mối nguy hiểm lớn nhất khi tiếp xúc với phẩm nhuộm azo.

Những tác động gây đột biến, gây ung thư của phẩm nhuộm azo có thể là do sự hình thành các gốc tự do và các dẫn xuất aryl amin tạo ra trong quá trình khử nhóm azo. Sau khi phẩm nhuộm azo vào cơ thể người, nó có thể được khử thành các hợp chất amin thơm bằng vi sinh vật yếm khí trong đường ruột [31]. Các amin thơm được tạo ra sẽ là những chất gây ung thư, được tích lũy trong chuỗi thức ăn, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người và hệ sinh thái [31]. Bản chất tác động gây ung thư là do sự phá huỷ DNA, dẫn đến sự tạo thành các khối u.

Những amin thơm hay đúng hơn là chính sản phẩm của các phản ứng chuyển hoá của nó đã phá huỷ DNA. Những chất này có ái lực điện tử và liên kết đồng hoá trị với những axit nucleic của DNA, theo dãy phản ứng sau: Oxi hóa pH < 7 Liên kết cộng hoá ArNHOH + + trị với những tâm ArNH2 HArNO H2 ArN H nucleotit trên đại phân tử Theo dãy phản ứng trên những nhân tố cấu trúc trên amin thơm thuận lợi tạo cation (những nhóm thế đẩy electron trên vị trí octo và para về vị trí nhóm NH2) làm tăng khả năng gây ung thư. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phẩm màu DB71 là một trong những loại phẩm màu họ azo, được dùng phổ biến để nhuộm các loại sợi xenlulozơ, sợi viscose, viscose/PVA, bông và sử dụng trong ngành thuộc da, giấy, nhựa. Công thức hóa học của DB71 được trình bày ở Hình 1.

Phẩm màu nói chung và DB71 nói riêng đều rất khó bị phân hủy sinh học, do cấu trúc bền vững và sự có mặt của vòng thơm. Công thức hóa học của phẩm màu DB71 1. Giới thiệu một số thành tựu xử lý các hợp chất màu azo 1. Các phương pháp hoá lý Các phương pháp hóa lý trong xử lý nước thải có chứa các hợp chất màu azo có đặc điểm chung là không xử lý triệt để mà chỉ chuyển chất ô nhiễm (chất màu) từ pha này sang pha khác, không làm biến đổi bản chất, cấu trúc chất màu.

Các phương pháp hóa lý thường sử dụng trong xử lý nước thải bao gồm: phương pháp keo tụ, phương pháp hấp phụ, phương pháp màng lọc. Phương pháp sinh học Đây là phương pháp xử lý dựa trên hoạt động sống của vi sinh vật để phân hủy các chất hữu cơ gây nhiễm bẩn nước thải. Các vi sinh vật sử dụng chất hữu cơ và một số chất khoáng làm nguồn dinh dưỡng và tạo năng lượng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ