ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, số lƣợng quẩn thể của các loài thú hoang dã nói chung và các loài thú quý hiếm ở Việt Nam đã và đang bị suy giảm nghiêm trọng từ các hiểm họa săn bắt, buôn bán và phá hủy sinh cảnh sống của chúng. Theo thống kê trong sách đỏ Việt Nam 2007 có 5 loài thú đã bị tuyệt chủng hoàn toàn hoặc tuyệt chủng ngoài tự nhiên và 85 loài đang bị đe dọa diệt vong ở các mức độ khác nhau, nhiều loài cũng đang đứng trƣớc nguy cơ tuyệt chủng nếu không có sự quan tâm bảo tồn đúng mức. Mặc dù trong những năm qua, Chính phủ đã có nhiều lỗ lực trong việc ngăn cản suy giảm sinh vật, nhƣng do nhận thức của ngƣời dân còn hạn chế và nguồn lợi trƣớc mắt từ động vật hoang dã là quá lớn, làm cho công việc của các cơ quan chức năng và những nhà bảo tồn còn gặp nhiều khó khăn. Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh đƣợc thành lập theo quyết định số 1649/QĐ – UB ngày 15 tháng 10 năm 2001 của UBND tỉnh Hòa Bình với diện tích 5.647 ha nằm trong danh giới của 4 xã Tân Pheo, Đồng Chum, Đồng Ruộng, Đoàn Kết thuộc huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình, có 2 loại sinh cảnh chính là rừng kín thƣờng xanh trên núi đất và rừng kín thƣờng xanh trên núi đá vôi với tính đa dạng sinh học cao cả về thực vật lẫn động vật, đồng thời cũng là nơi lƣu trữ nhiều loài dƣợc liệu đƣợc ngƣời dân khai thác và sử dụng từ lâu đời.
Tuy nhiên, hiện nay do sức ép từ các hoạt động của con ngƣời nhƣ săn bắt và phá hủy sinh cảnh các quần thể động vật hoang dã nói trung và khu hệ thú nói riêng ngày càng suy giảm. Đặc biệt một số loài thú có tên trong sách đỏ Việt Nam từ cấp sẽ nguy cấp (VU) trở lên nhƣ Culi nhỏ (Nycticebus pygmaeus), Cu li lớn (Nycticebus coucang), Gấu ngựa (Ursus thibetanus), Mèo rừng (Felis bengalensis), Khỉ cộc M. Những số liệu về hiện trạng của các loài này tại Khu bảo tồn là hết sức quan trọng trong nghiên cứu khoa học cũng nhƣ trong công tác bảo tồn tài nguyên sinh vật tại khu vực. 1 Vì vậy để góp phần cung cấp những thông tin cơ bản về thành phần loài, phân bố, giá trị khoa học và các mối đe dọa tới khu hệ thú hiện nay, bên cạnh đó đề xuất một số giải pháp nhằm quản lý, bảo vệ có hiệu quả đối với các loài thú quan trọng tại Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Phu Canh, tác giả đã tiến hành nghiên cứu đề tài “ Nghiên cứu tình trạng và phân bố của các loài thú quan trọng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình” 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Đ c điểm lớp thú Lớp thú có tên khoa học là Mamalia, gồm những loài có tổ chức cao nhất trong các lớp động vật có xƣơng sống. Chúng có thân nhiệt cao và ổn định. Hệ thần kinh rất phát triển, đặc biệt là lớp vỏ xám của não bộ. Đẻ con và nuôi con bằng sữa.
Trong một số tài liệu tiếng Việt khác gọi là (lớp) động vật có vú động vật hữu nhũ), vì đặc điểm của chúng là có nhiều tuyến dƣới da ngực, gọi là vú, tiết ra sữa để nuôi con mới sinh. Ngoài ra động vật thuộc lớp này có 3 xƣơng nhỏ trong tai, da có lông, răng và não phát triển cao cấp hơn các loài lớp khác, tim có 4 thất và máu nóng. Lớp thú có 4 dạng chính do thích nghi với môi trƣờng sống: Dạng có đầu, mình, cổ và đuôi phân biệt rõ ràng. Dạng này chiếm đa số các loài trong lớp thú, các loài này chủ yếu sống trên cạn.
Ví dụ: Mèo, Thỏ, Bò. Dạng có cánh: Dạng này thích nghi với môi trƣờng sống có không khí, có khả năng bay lƣợn. Giữa các ngón của chi có lớp da, y nhƣ cánh của các loài chim. hoặc màng da nối trƣớc với cổ nhƣ là Chồn bay.
Dạng thích nghi bơi lội: Cơ thể có các chi biến đổi thành các vây. Lớp da trở lên trơn, bóng hơn. Ví dụ nhƣ Cá heo, Cá voi. Thành phần loài thú ở Việt Nam Các công trình đã đƣợc công bố và thống kê thành phần loài thú ở Việt Nam phải kể đến là: Đào Văn Tiến 1985), đã phân tích các mẫu vật thú sƣu tầm đƣợc ở 12 tỉnh miền Bắc Việt Nam từ năm 1957 đến 1971 và đƣa ra danh lục thú ở miền Bắc Việt Nam gồm 129 loài và phân loài thú thuộc 32 họ và 11 bộ.
Kết quả điều tra nguồn lợi Thú ở Việt Nam của Đặng Huy Huỳnh và cộng sự 1981) đã tập hợp các tƣ liệu điều tra thú ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam gồm 169 loài thú (22 loài và phân loài) thuộc 32 loài và 11 bộ. 3 Đặng Huy Huỳnh và cộng sự 1994) đã thống kê ở Việt Nam có 223 loài thú thuộc 12 bộ, 37 họ (không thống kê các loài thú biển). Kyznetsov 2006) đã thống kê ở Việt Namcó 310 loài thú thuộc 44 họ và 14 bộ (kể cả thú biển). Đây là danh lục thú Việt Nam đầu tiên có thống kê các loài thú biển đã biết ở vùng biển Việt Nam.
"Đặng Ngọc Quân và cộng sự (2008) thống kê đƣợc 295 loài thú (298 loài và phân loài) thú thuộc 37 họ và 13 bộ ở Việt Nam (không kể thú biển) 1. Lƣợc sử nghiên cứu khu hệ thú ở việt nam: Nghiên cứu tính đa dạng sinh học nói chung và khu hệ thú nói riêng đã đƣợc các nhà khoa học nghiên cứu từ lâu đời. Sự ra đời của hệ thống danh pháp kép đƣợc xây dựng từ thế kỷ thứ XVI bởi nhà sinh học ngƣời Thụy Điển Carolus Linnaeus đã chứng tỏ tính đa dạng sinh học đƣợc quan tâm và là tiêu điểm nghiên cứu của các nhà khoa học từ nhiều năm trƣớc đây. Ở Việt Nam cũng đã có rất nhiều nghiên cứu về khu hệ động vật, những nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong hệ sinh thái rừng mà còn là nhóm sinh vật có ý nghĩa đối với đời sống con ngƣời.
Điểm lại một cách khái quát quá trình nghiên cứu thú rừng ở Việt Nam. Thời kì trước năm 1945 Những công trình nghiên cứu về khu hệ thú của nƣớc ta bắt đầu từ rất sớm. Trong thế kỉ XIX, nhiều tài liệu về khu hệ thú của Việt Nam đã đƣợc bắt đầu công bố trên sách báo thế giới. Đặc biệt trong thời kì Pháp xâm lƣợc, các nhà khoa học đã bắt đầu nghiên cứu về tình hình thiên nhiên Việt Nam, đặc biệt là rất quan tâm tới lớp thú.
Những tài liệu ban đầu thu thập đƣợc trong qua trình nghiên cứu thú tại Nam Bộ và Trung Bộ đƣợc nhiều nhà khoa học công bố nhƣ: Jouan 1868), Germain 1887), Harmand 1881), Heude (1888). Cũng trong thời gian đó, cuốn tài liệu “ nhìn chung về lịch sử tự nhiên của Bắc Bộ” đƣợc Brousmiche (1887) cho xuất bản đã giới thiệu ngắn gọn về một số loài thú có giá trị kinh tế, dƣợc liệu và phân bố của chúng.Huede đã công bố tài liệu về loài Sơn Dƣơng Capriconsis marritinus). Năm 1896, Billet viết cuốn “ hai năm ở miền núi Bắc Bộ”. Cũng trong năm đó, De Pousargues đã có phát hiện về loài Vƣợn mới (Hylobates henrici) tìm thấy ở Lai Châu và ông cũng thông báo về loài Vọoc đen Pythecus Francoisi) ở Bắc Bộ và Trung Bộ.
Vào những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, tình hình nghiên cứu về thú ở nƣớc ta có nhiều tiến triển hơn. Đáng chú ý là đoàn nghiên cứu do Pavie dẫn đầu đã tiến hành khảo sát, nghiên cứu và thu thập số liệu về thú từ năm 1879 đến năm 1898 ở nhiều địa điểm khác nhau trên lãnh thổ Việt Nam. Cuốn sách “Nghiên cứu về lịch sử tự nhiên của Đông Dƣơng” 1879 – 1898) đƣợc công bố là kết quả của đoàn nghiên cứu. Đây có thể coi là công trình nghiên cứu đầu tiên và tƣơng đối hoàn chỉnh về thú ở Đông Dƣơng.
Trong công trình đó, De Pousaguess đã thống kê đƣuọc 200 loài và loài phụ thú ở Việt Nam, Lào, Campuchia và Thái Lan. Trong đó đặc biệt là ở Việt Nam đã công bố đƣợc 117 loài và loài phụ. Cũng trong khoảng thời gian đó, đoàn nghiên cứu khảo sát thú miền Bắc Việt Nam do Boutan dẫn đầu đã công bố nhiều kết quả trong các cuốn tạp chí Bulltine Museum Naturelle 1905). Năm 1906, Boutan còn cho xuất bản cuốn sách “Mười năm nghiên cứu về động vật hoang dã” với những dẫn liệu mới về hình thái, sinh học và sự phân bố của 10 loài thú.Osgood đã tập hợp tất cả những tài liệu của tác giả trên, đƣa thông báo chung về loài thú và đã thống kê đƣợc 172 loài và phân loài.
Đây là một tài liệu có giá trị về nghiên cứu phân loại và khu hệ thú tại Việt Nam. Những năm sau đó chỉ có một vài thông báo nhỏ của E.Delacour (1934) về Vƣợn. bên cạnh đó có nhiều cuốn sách về việc săn bắt thú ở Việt Nam do các nhà săn bắt ngƣời Pháp biên tập.2 Thời kì 1945 - 1975 Trong thời kì chiến tranh chống Pháp (1945 - 1954) thì các hoạt động nghiên cứu thú bị gián đoạn, không có nhiều ghi nhận để bổ xung về thú ở Việt Nam. 5 Ở miền Nam Việt Nam sau năm 1954 các hoạt động nghiên cứu thú cũng gần nhƣ bị đình trệ mãi đến những năm cuối thập kỉ 60, P.D Van Peenen mới có những đợt khảo sát nghiên cứu về khu hệ thú ở một số tỉnh.
Cuốn “Preliminary Mammals of South Viet Nam” (1969) đƣợc ra đời là kết quả của quá trình nghiên cứu của ông. Trong đó mô tả sơ bộ 217 loài và phân loài thú có ở Miền Nam Việt Nam và vùng phân bố của chúng. Ở miền Bắc, năm 1968 Đặng Huy Huỳnh đã có công bố một phần kết quả nghiên cứu về thú ăn thịt và thú móng guốc trong cuốn sách “Sinh học và sinh thái các loài thú móng guốc ở Bắc Việt Nam” NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội. Tiếp đến cuốn sách “Thú kinh tế miền Bắc Việt Nam” do Lê Hiền Hào công bố vào năm 1973 đã đề cập đến một số đặc điểm sinh vật học chỉ yếu và phân bố của những loài thú có giá trị kinh tế ở miền Bắc Việt Nam.
Thời kì sau năm 1975 Một trong những điểm quan trọng trong thời gian này là các nghiên cứ không mang tính chất chuyên đề cao mà có sự quan tâm đặc biệt đến tình trạng bảo tồn các loài thú ở Việt Nam. Do đó có nhiều tài liệu về bảo tồn đã đƣợc xuất bản.