Tổng quan luận án

Bảo vệ bờ sông và quản lý diễn biến lòng dẫn là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quản lý tài nguyên nước và môi trường lưu vực. Luận án tiến sĩ "Nghiên cứu tính toán xói mòn, sạt lở bờ sông Đồng Nai khu vực Cù lao Rùa và đề xuất giải pháp giảm thiểu" được tác giả Nguyễn Mộng Giang thực hiện năm 2024 tại Trường Đại học Bách khoa – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc chuyên ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường (mã số: 62850101), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Song Giang và PGS. Võ Lê Phú.

Về tính cấp thiết, sông Đồng Nai là hệ thống sông lớn thứ ba tại Việt Nam, giữ vai trò cung cấp nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội khu vực Đông Nam Bộ. Khu vực Cù lao Rùa (xã Thạnh Hội, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương), nằm cách đập thủy điện Trị An 44 km về phía hạ lưu, là di tích khảo cổ học cấp Quốc gia (được công nhận năm 2009 với niên đại 3.000 năm). Tình trạng sạt lở tại đây diễn biến phức tạp và gia tăng kể từ khi hồ thủy điện Trị An vận hành, kết hợp với hoạt động khai thác cát trong lòng sông. Toàn bộ cù lao ghi nhận 7 điểm sạt lở với tổng chiều dài khoảng 2,5 km; nghiêm trọng nhất là đoạn "cổ rùa" bên nhánh phụ đã bị thu hẹp chỉ còn khoảng 85 m bề rộng, đối mặt với nguy cơ bị dòng chảy chia cắt hoàn toàn cù lao thành hai phần.

Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ rõ các phần mềm thương mại và công cụ mô hình toán hiện hữu trong nước chủ yếu tập trung tính toán xói mòn đáy lòng dẫn, chưa mô phỏng đồng thời và định lượng được quá trình xói ngang mái bờ do tác động của thủy lực dòng chảy kết hợp với quá trình thấm và mất ổn định mái dốc. Do đó, các công cụ này chưa phản ánh đầy đủ nguy cơ và cơ chế sạt lở bờ thực tế tại các đoạn sông cong có cù lao.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định như sau:

  • Mục tiêu tổng quát: Đánh giá hiện trạng, tính toán và dự báo xói mòn, sạt lở bờ sông Đồng Nai khu vực Cù Lao Rùa và đề xuất giải pháp kiểm soát.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Xây dựng phương pháp tính toán sạt lở bờ phù hợp cho đoạn sông cong, sông có cù lao.
    2. Xác định cơ chế, nguyên nhân sạt lở Cù lao Rùa và dự báo diễn biến.
    3. Đề xuất các giải pháp kiểm soát tác động, ngăn ngừa và giảm thiểu sạt lở.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hiện tượng và quá trình sạt lở bờ sông.
  • Phạm vi nội dung và vật liệu: Nghiên cứu giới hạn đối với bờ sông cấu tạo từ vật liệu kết dính và đồng nhất (không phân lớp); tác nhân gây sạt lở tập trung vào quá trình dòng chảy gây xói mòn đáy và bờ kết hợp biến động mực nước.
  • Phạm vi không gian: Đoạn sông Đồng Nai bao quanh Cù lao Rùa, trọng tâm thử nghiệm và ứng dụng chi tiết tại nhánh sông phụ thuộc xã Thạnh Hội, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
  • Phạm vi thời gian và chuỗi số liệu: Chuỗi quan trắc địa hình, thủy lực thực địa đo đạc tháng 8/2017 và dữ liệu thủy triều, lưu lượng đại diện tháng 2/2016.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan các cách tiếp cận nghiên cứu xói lở bờ sông và biến hình lòng dẫn trên thế giới và tại Việt Nam:

  1. Hướng tiếp cận hình thái học cổ điển: Dựa trên giả định lòng dẫn đạt trạng thái ổn định khi kích thước hình học cân bằng với các yếu tố động lực dòng chảy, được xây dựng qua các công trình của Lacey, Blench, Simons và Albertson. Luận án chỉ ra hạn chế của phương pháp này là không mô tả được quá trình diễn biến bồi xói theo thời gian thực và không phản ánh được tính phức tạp của chế độ thủy lực cũng như cấu trúc địa chất địa phương.

  2. Hướng tiếp cận động lực học bùn cát: Xem biến hình lòng sông là chu trình cơ học gồm xâm thực (xói đáy, bào mòn bờ), dịch chuyển (vận tải bùn cát) và bồi lắng.

  • Về ngưỡng khởi động bùn cát không dính: Kế thừa đường cong Shields (1936), công thức vận tốc ma sát của White (1940), các biến đổi của Bonnefille (1963) và Yalin (1972) theo đường kính hạt vô thứ nguyên $D_*$, quan hệ của Miller và cộng sự (1977), công thức ứng suất tới hạn trong hỗn hợp hạt của Egiazaroff (1965) và Wu cùng cộng sự (2000), nghiên cứu của Van Rijn (1984, 1993).
  • Về cơ chế xói bùn cát dính: Khảo sát các dạng xói bứt hạt bề mặt, xói khối và hóa lỏng. Các công thức xác định suất xói $E_b$ của Partheniades (1965), Mehta và Hayter (1981), Osman và Thorne (1988), Hanson và Simon (2001), Sanford và Maa (2001).
  • Về bùn cát hỗn hợp: Kế thừa nghiên cứu của Van Ledden và cộng sự (2004) xác định ngưỡng chuyển tiếp cơ chế khi tỷ lệ sét đạt 3-5%, các nghiên cứu của Mitchener và Torfs (1996), Jacobs và cộng sự (2011), và mô hình suất xói theo cấp phối của Lin và Wu (2014).
  1. Hướng phân tích độ ổn định bờ sông: Tổng hợp ba cơ chế phá hủy chính gồm trượt phẳng (áp dụng cho bờ thấp hoặc tầng kết dính mỏng), trượt cung tròn (áp dụng cho bờ cao đất dính, dựa trên phương pháp lát cắt của Taylor, Bishop và hoàn thiện bởi Tokaldany và Samadi năm 2008), và trượt hẫng/công xôn (với ba dạng trượt cắt, dầm uốn và nứt kéo theo Thorne và Tovey năm 1981).

  2. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam và khu vực Cù lao Rùa:

  • Hoàng Văn Huân (2007) sử dụng mô hình 1D (MIKE 11) cho toàn hệ thống sông Đồng Nai - Sài Gòn và mô hình 2D (MIKE 21C) cho ba đoạn sông trọng điểm, nhưng không bao gồm khu vực Cù lao Rùa.
  • Nguyễn Thế Dũng (2017) nghiên cứu sạt lở Cù lao Rùa bằng mô hình 2D. Luận án phân tích các hạn chế của nghiên cứu này: mô hình 2D bị chia cắt thành các mô hình con làm mất tính liên tục; điều kiện biên lấy từ mô hình 1D không phản ánh tương tác ngược; mô hình 2D phẳng không thể hiện được cấu trúc dòng chảy xoáy thứ cấp 3D tại các khúc quanh uốn cong gấp; mô hình chỉ tính xói đáy, bỏ qua xói ngang bờ.
  • Các nghiên cứu khác của Lương Phương Hậu, L.M. Hùng, Vũ Tất Uyên cũng gặp giới hạn tương tự về việc chưa mô phỏng liên kết đồng thời xói đáy, xói ngang và ổn định trượt mái dốc bờ.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn: Thiết lập một phương pháp mô hình hóa tích hợp giữa thủy động lực học 3D (phản ánh dòng xoáy thứ cấp tại khúc uốn quanh cù lao) với công cụ tính toán thấm và ổn định bờ sông có xét đến quá trình xói ngang mái dốc theo thời gian thực.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên nền tảng lý thuyết thủy lực học sông ngòi, cơ học đất và động lực học dòng bùn cát:

  1. Cơ sở lý thuyết:
  • Phương pháp dòng chảy 3 chiều: Hệ phương trình liên tục và Reynolds-Averaged Navier-Stokes (RANS) kết hợp phương trình bảo toàn vận tải nồng độ bùn cát lơ lửng $c$: $$\frac{\partial u}{\partial x} + \frac{\partial v}{\partial y} + \frac{\partial w}{\partial z} = 0$$ $$\frac{\partial c}{\partial t} + \frac{\partial (uc)}{\partial x} + \frac{\partial (vc)}{\partial y} + \frac{\partial ((w - w_s)c)}{\partial z} = \frac{\partial}{\partial x}\left(\varepsilon_H \frac{\partial c}{\partial x}\right) + \frac{\partial}{\partial y}\left(\varepsilon_H \frac{\partial c}{\partial y}\right) + \frac{\partial}{\partial z}\left(\varepsilon_V \frac{\partial c}{\partial z}\right)$$
  • Phương trình chuyển động bùn cát đáy và cân bằng khối lượng lòng dẫn.
  • Mô hình thấm nước dưới đất qua môi trường rỗng không áp/có áp tại thân bờ sông.
  • Phương pháp phân tích ổn định mái dốc bờ sông: Phương pháp cân bằng giới hạn theo cung trượt tròn Bishop cải tiến có xét áp lực nước lỗ rỗng âm (trong đới chưa bão hòa) và lực thủy tĩnh trong khe nứt: $$FS = \frac{F_R}{F_D} = \frac{\sum [c' L_i + S_i \tan \phi^b + N'i \tan \phi']}{\sum [W_i \sin \alpha_i - F{cpi} \cos \alpha_i \sin \alpha_i + \dots]}$$
  1. Công cụ mô hình toán:
  • Phần mềm F28: Mô hình thủy động lực học tích hợp 1D-2D-3D. Khu vực nghiên cứu Cù lao Rùa được chia lưới và tính toán dòng chảy 3D nhằm trích xuất chính xác trường vận tốc cục bộ, thành phần xoáy thứ cấp, phân bố ứng suất tiếp đáy $\tau_b$ và ứng suất ma sát mái bờ $\tau_w$. Tác giả bổ sung module tính toán xói ngang bờ vào phần mềm F28.
  • Phần mềm STABI: Công cụ do tác giả tự xây dựng, bao gồm 3 module liên kết:
    • Module tính toán dòng chảy thấm tại bờ sông: Giải phương trình dòng thấm hai chiều trong điều kiện biên mực nước sông dao động theo triều, xác định đường bão hòa và biến thiên áp lực nước lỗ rỗng.
    • Module phân tích tính ổn định bờ: Tìm kiếm và xác định cung trượt nguy hiểm nhất dựa trên trạng thái ứng suất, hình học mái bờ bị xói và mực nước ngầm.
    • Module tính toán sạt lở: Mô phỏng quá trình sụp đổ của khối trượt khi hệ số an toàn $FS < 1,0$, dịch chuyển lưới tính toán và tái tạo hình học biên dạng bờ mới.
  1. Phương pháp tiếp cận và phân tích thực tế:
  • Phương pháp kế thừa và khảo sát thực địa: Thu thập tài liệu địa chất, khoan khảo sát bổ sung, đo vẽ bình đồ địa hình và đo đạc đồng bộ mực nước, lưu lượng tại các trạm kiểm chứng ở Cù lao Rùa từ ngày 5 đến ngày 8/8/2017.
  • Phương pháp chuyên gia và Đánh giá đa tiêu chí SAW (Simple Additive Weighting): Lấy ý kiến các chuyên gia độc lập, chuyên gia quản lý và kỹ thuật nhằm phân cấp mức độ quan trọng, tính toán trọng số theo 4 nhóm chủ đề (Kinh tế; Kỹ thuật công trình; Điều kiện công trình; Môi trường và thẩm mỹ) để so sánh và lựa chọn phương án công trình chống sạt lở tối ưu.

Nội dung chính theo từng chương

Tổng quan hiện trạng các đoạn sạt lở tại Cù lao Rùa

Dựa trên kết quả khảo sát địa hình và thực địa của Nguyễn Thế Dũng (2017) được luận án tổng hợp, hiện trạng 7 đoạn sạt lở tại Cù lao Rùa có đặc điểm như sau:

Đoạn Vị trí Nhánh sông Chiều dài (m) Chiều cao vách (m) Góc dốc vách Đặc điểm hiện trạng
Đoạn 1 Cổ rùa Sông chính 500 2,0 - 3,0 80° - 90° Hình thành vách dốc đứng dọc bờ
Đoạn 2 Cuối cù lao Sông chính 300 2,5 - 3,0 Dốc đứng Sạt lở cục bộ từng đoạn 10-30m; dân tự làm kè 75m và 45m
Đoạn 3 Cuối cù lao Sông phụ 350 1,5 - 2,5 80° - 90° Sạt lở dọc toàn bộ chiều dài đoạn
Đoạn 4 Dọc thân Sông phụ 750 2,0 - 3,0 80° - 90° Sạt lở xen kẽ nghiêm trọng; có 2 đoạn kè tường đứng dân xây dài 70m
Đoạn 5 Thân cù lao Sông phụ 350 2,5 - 3,0 80° - 90° Toàn tuyến sạt lở; cục bộ có vách cao 3,5 - 4,0 m
Đoạn 6 Đầu rùa (đối diện rạch Tổng Bản) Sông phụ 250 Dốc đứng Dốc đứng Đã gia cố đá đổ 100m; 150m còn lại tiếp tục sạt lở
Đoạn 7 Thượng lưu đoạn 6 Sông phụ 60 2,5 Dốc đứng Cách đoạn 6 khoảng 180m; chiều sâu xói lấn vào bờ đạt 6m

Chương 1. Tổng quan sạt lở bờ sông trên thế giới, Việt Nam và khu vực nghiên cứu

Chương này trình bày tổng quan lý luận về biến hình lòng dẫn, cơ chế vật lý của xói mòn và sạt lở bờ sông, cùng các đặc trưng tự nhiên và nhân sinh tại khu vực Cù lao Rùa:

  • Đặc điểm địa hình: Cù lao Rùa thuộc địa hình đồng bằng phẳng, cao trình dao động trung bình từ +2,0 m đến +4,0 m, điểm cao nhất đạt +17,5 m (khu vực chùa Khánh Sơn), bề mặt có xu hướng nghiêng dần từ Đông sang Tây. Nhánh sông chính rộng 200 - 400 m, cao trình đáy trung bình -10 m, tồn tại hai hố xói sâu (-14 m và -16 m đến -17 m). Nhánh sông phụ dài 6,3 km, rộng 120 - 220 m, đáy sâu trung bình -6 m đến -7 m, có ba hố xói sâu (-9 m đến -11 m tại rạch Tổng Bản; -10 m tại đỉnh cong cổ rùa; -12 m tại hạ lưu cầu Thạnh Hội). Đoạn cổ rùa là nơi hẹp nhất của cù lao.
  • Cấu trúc địa chất bờ: Trầm tích phù sa cổ Pleistocen (hệ tầng Thủ Đức, Củ Chi) và trầm tích Holocen. Địa tầng bờ sông khu vực nghiên cứu gồm các lớp sét dẻo mềm đến dẻo chảy (lớp 1, lớp 2a, 2b, lớp 2, lớp 3) với độ bền chống cắt thấp. Đáng lưu ý, thấu kính cát nằm ở cao độ từ -3 m đến -6 m khi chịu tác động đồng thời của dòng thấm và lưu tốc đáy cao rất dễ bị xói ngầm, tạo hàm ếch dẫn tới sụp đổ các lớp đất phía trên.
  • Chế độ thủy văn và thủy động lực học: Sông Đồng Nai chịu sự điều tiết của hồ thủy điện Trị An và chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông. Biên độ triều dao động từ 2,0 m đến 4,0 m, với chu kỳ triều ngày 24,83 giờ. Chu kỳ khô - ướt lặp lại hai lần mỗi ngày làm suy giảm liên kết hạt đất, đồng thời gradient áp lực nước ngầm khi triều rút nhanh tạo lực đẩy khối đất trượt ra phía sông.
  • Tác động nhân sinh: Mật độ giao thông thủy trên nhánh chính đạt khoảng 100 lượt/ngày; các sà lan tự hành, ghe chở vật liệu chạy sát bờ với vận tốc lớn tạo sóng va đập trực tiếp vào mái dốc. Hoạt động khai thác cát trong khu vực làm gia tăng độ sâu lòng dẫn và thay đổi độ dốc bờ.

Chương 2. Cơ sở khoa học tính toán và đánh giá sạt lở, xói mòn

Chương 2 mô tả chi tiết thuật toán và cấu trúc của mô hình tích hợp F28 và phần mềm STABI:

  • Tích hợp mô hình dòng chảy và xói ngang: Tác giả phát triển thuật toán bổ sung vào F28 nhằm tính toán trực tiếp ứng suất tiếp ma sát mái bờ $\tau_w$, từ đó xác định tốc độ bào mòn bờ theo phương ngang do động lực học dòng nước.
  • Cấu trúc công cụ STABI:
    1. Module tính toán dòng chảy thấm: Mô phỏng phương trình vi phân thấm qua môi trường rỗng hai chiều không ổn định, thiết lập điều kiện biên áp lực thủy tĩnh mặt hạ lưu thay đổi theo triều. Thuật toán dịch chuyển và biến thiên lưới phần tử tam giác tự động theo vị trí mặt bão hòa. Module được kiểm nghiệm với bài toán thấm qua đập đất chữ nhật kinh điển, so sánh đối chứng với kết quả của Kazemzadeh-Parsi và Daneshmand (2012) cũng như Dou và cộng sự, cho thấy sự tương đồng cao về cao độ đường bão hòa và điểm rỉ nước.
    2. Module phân tích tính ổn định bờ: Áp dụng phương pháp phân tích lát cắt Bishop cải tiến, tích hợp áp lực nước lỗ rỗng âm ở vùng đất chưa bão hòa trên mặt trượt và ảnh hưởng của áp lực nước trong khe nứt căng kéo. Thuật toán tự động quét tâm và bán kính để tìm kiếm mặt trượt có hệ số an toàn nhỏ nhất ($FS_{\min}$).
    3. Module tính toán sạt lở bờ: Khi $FS_{\min} < 1,0$, khối đất nằm trên cung trượt nguy hiểm được coi là sụp đổ. Module tự động loại bỏ khối trượt khỏi lưới tính, cập nhật đường biên dạng hình học mới của bờ sông, đồng thời co cụm và tái tạo lưới phần tử hữu hạn để sẵn sàng cho chu kỳ tính toán thấm và xói mòn tiếp theo.

Chương 3. Tính toán và đánh giá diễn biến sạt lở bờ sông khu vực Cù lao Rùa

Chương này trình bày kết quả ứng dụng mô hình F28 và STABI để tính toán định lượng cho khu vực nghiên cứu:

  • Thiết lập mô hình: Mô hình tích hợp 1D-2D-3D toàn hệ thống sông Đồng Nai, trong đó đoạn Cù lao Rùa được mô phỏng chi tiết dạng 3D. Điều kiện biên mực nước và lưu lượng được hiệu chỉnh từ chuỗi đo đạc ngày 5 - 8/8/2017, đạt độ tương thích tốt giữa đường tính toán và số liệu quan trắc thực tế.
  • Đặc trưng trường vận tốc và ứng suất ma sát:
    • Kết quả mô phỏng 3D mặt thoáng và các mặt cắt ngang làm rõ sự xuất hiện của cấu trúc xoáy thứ cấp cường độ mạnh tại khúc uốn cong cổ rùa bên nhánh sông phụ. Thành phần vận tốc tiếp tuyến và pháp tuyến dọc theo các mặt cắt thể hiện rõ dòng chảy áp sát bờ lõm.
    • Phân bố ứng suất ma sát đáy ($\tau_b$) và mái bờ ($\tau_w$) được xác định chi tiết trong cả hai pha triều lên mạnh nhất và triều xuống mạnh nhất (số liệu ngày 8/2/2016). Ứng suất ma sát tập trung cục bộ tại chân bờ và mái dốc của đoạn uốn cong.
  • Dự báo bồi xói và diễn biến sạt lở:
    • Mô hình tính toán diễn biến bồi xói đáy sau chu kỳ 28 ngày trong mùa kiệt và mùa lũ.
    • Mô phỏng diễn biến hạ thấp mực nước ngầm trong thân bờ theo chu kỳ triều rút. Kết quả phân tích độ ổn định chỉ ra hệ số an toàn $FS$ của mái bờ giảm xuống mức cực tiểu tại thời điểm mực nước sông hạ thấp nhất kết hợp với dòng thấm thoát chậm.
    • Kết hợp tốc độ bào mòn bờ của F28 với module sạt lở của STABI cho thấy: Quá trình xói chân bờ diễn ra liên tục làm tăng dần độ dốc mái dốc. Sau 321 ngày tính toán, hệ số an toàn tụt xuống dưới 1,0 và sạt lở bờ chắc chắn xảy ra tại vị trí cổ rùa bên nhánh phụ, với vết trượt có bề rộng ăn sâu vào bờ khoảng 3,8 m. Tác giả lưu ý thời gian và quy mô vết sạt mang tính chất dự báo xu thế do số liệu hiệu chỉnh còn thiếu thốn.

Chương 4. Đề xuất các giải pháp kiểm soát tác động, ngăn ngừa và giảm thiểu sạt lở bờ tại khu vực Cù lao Rùa

Chương 4 đưa ra các nhóm giải pháp công trình và phi công trình dựa trên phương pháp phân tích đa tiêu chí:

  • Giải pháp phi công trình:

    • Quản lý, giám sát và cấm hoạt động khai thác cát trái phép trong lòng dẫn quanh khu vực cù lao.
    • Quy định hạn chế tốc độ chạy tàu, cấm luồng sà lan tải trọng lớn lưu thông vào nhánh sông phụ hẹp.
    • Quy hoạch hành lang bảo vệ bờ sông, di dời công trình nhà ở và tải trọng xây dựng nằm sát mép sạt lở.
    • Trồng cây bảo vệ mái bờ tại các khu vực bãi bồi ổn định.
  • Đánh giá lựa chọn giải pháp công trình bằng phương pháp SAW (Simple Additive Weighting):

    • Tác giả thiết lập hệ thống tiêu chí phân cấp gồm 4 nhóm chủ đề chính: Kinh tế; Kỹ thuật công trình; Điều kiện công trình; Môi trường và thẩm mỹ.
    • Tổng hợp ý kiến chuyên gia (chi tiết danh sách chuyên gia tại Phụ lục 2) để tính toán trọng số nhóm và trọng số chi tiết cho từng chỉ thị.
    • Thực hiện chấm điểm đánh giá đa tiêu chí đối với 3 phương án kỹ thuật khả thi cho vị trí cổ rùa nhánh phụ:
      1. Phương án 1: Kè tường đứng bằng cọc bản chắn bê tông cốt thép (BTCT).
      2. Phương án 2: Kè tường góc BTCT trên nền cọc.
      3. Phương án 3: Kè tường đứng bằng BTCT dự ứng lực.
    • Kết quả tính toán tổng hợp cho thấy Phương án 1 (Kè tường đứng bằng cọc bản chắn BTCT) đạt điểm đánh giá cao nhất nhờ ưu thế về khả năng thi công trong không gian hẹp bên nhánh phụ, độ bền chống xói chân bờ và chi phí phù hợp.

Kết quả và những đóng góp mới

Các kết quả nghiên cứu và đóng góp mới của luận án bao gồm:

  1. Về mặt khoa học và phương pháp tính toán:
  • Xây dựng hoàn chỉnh công cụ tính toán xói lở bờ STABI tích hợp 3 module: tính toán dòng thấm không ổn định, phân tích ổn định trượt mái dốc và mô phỏng cập nhật biên dạng bờ sạt lở.
  • Bổ sung module tính xói ngang mái dốc bờ vào phần mềm thủy động lực học F28, tạo thành chuỗi mô hình liên hoàn giải quyết trọn vẹn bài toán diễn biến lòng dẫn gồm xói đáy, xói ngang và sạt lở bờ.
  • Ứng dụng mô hình 3D để mô phỏng chính xác cấu trúc dòng chảy xoáy thứ cấp tại đoạn sông uốn cong quanh cù lao, điều mà các mô hình 1D và 2D trước đây chưa thực hiện được.
  1. Về mặt thực tiễn:
  • Làm rõ cơ chế và nguyên nhân sạt lở tại Cù lao Rùa: Khúc uốn cong làm phát sinh các xoáy thứ cấp, tập trung ứng suất ma sát gây xói sâu đáy và khoét chân bờ; kết hợp với sự tồn tại của thấu kính cát dễ xói ngầm và tác động của chế độ bán nhật triều rút nhanh làm mất ổn định mái dốc.
  • Dự báo định lượng xu thế sạt lở tại vị trí xung yếu cổ rùa bên nhánh phụ (sau 321 ngày có thể xuất hiện vết trượt rộng 3,8 m), cung cấp cơ sở khoa học để chính quyền địa phương khoanh vùng rủi ro chia cắt cù lao.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp giảm thiểu toàn diện; trong đó giải pháp công trình kè tường đứng bằng cọc bản chắn BTCT được lựa chọn thông qua phương pháp đa tiêu chí SAW mang tính khả thi cao cho địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên các nội dung văn bản luận án trình bày:

  • Hạn chế:
    • Mô hình STABI hiện mới chỉ áp dụng cho loại vật liệu bờ sông đồng nhất và kết dính; chưa mô phỏng được cấu trúc bờ phân lớp phức tạp hoặc bờ có nhiều thấu kính cát xen kẽ phi tuyến.
    • Chuỗi số liệu địa hình, thủy lực quan trắc thực địa còn hạn chế về thời gian; mô hình tính toán chưa được hiệu chỉnh và kiểm định đầy đủ với các trận lũ cực đoan nên độ tin cậy về mặt thời gian xuất hiện vết sạt (321 ngày) và kích thước khối sạt chưa thật sự cao.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Nâng cấp công cụ STABI để tính toán cho bờ sông có cấu trúc địa tầng phân lớp và vật liệu không đồng nhất.
    • Mở rộng mạng lưới quan trắc biến động lòng dẫn và mực nước ngầm định kỳ nhằm tiếp tục kiểm chứng, chuẩn hóa các thông số nhám và hệ số xói của mô hình.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn cho các đối tượng sau:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Kỹ thuật Công trình Thủy, Thủy văn học: Có thể tham khảo phương pháp luận tích hợp mô hình 3D RANS với mô hình dòng thấm và ổn định mái dốc (Chương 2 và Phụ lục 1).
  • Các kỹ sư thiết kế công trình bảo vệ bờ: Có thể tham khảo quy trình tính toán ứng suất ma sát bờ sông và thuật toán xác định mặt trượt nguy hiểm khi chân bờ bị xói lở.
  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách (Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Dương): Cung cấp cơ sở dữ liệu hiện trạng 7 điểm sạt lở, đánh giá nguy cơ chia cắt di tích Cù lao Rùa và phương pháp luận phân tích đa tiêu chí SAW để lựa chọn giải pháp kè bảo vệ bờ hợp lý.

Câu hỏi thường gặp

  1. Nguyên nhân vật lý cốt lõi nào gây ra sạt lở nghiêm trọng tại khu vực cổ Cù lao Rùa? Trả lời: Nguyên nhân chủ yếu là cấu trúc dòng chảy xoáy thứ cấp hình thành do lòng sông uốn cong gấp. Dòng xoáy này tập trung ứng suất ma sát vào bờ lõm, gây xói sâu đáy và khoét chân mái bờ sông. Đồng thời, cấu trúc địa chất có thấu kính cát ở cao độ -3 m đến -6 m kết hợp với biên độ triều lớn (2 - 4 m) rút nhanh gây chênh lệch áp lực nước ngầm lớn, làm suy giảm lực chống cắt và gây sụp đổ bờ.

  2. Công cụ STABI do tác giả xây dựng gồm những module nào và liên kết với phần mềm F28 ra sao? Trả lời: STABI gồm 3 module cơ bản: (1) Module tính toán dòng thấm tại bờ sông; (2) Module phân tích độ ổn định bờ (theo phương pháp Bishop cải tiến); (3) Module tính toán sạt lở bờ. Công cụ này nhận dữ liệu đầu vào là tốc độ xói đáy và tốc độ xói ngang bờ được tính toán từ mô hình thủy lực 3D của phần mềm F28 để dự báo thời điểm mất ổn định và cập nhật biên dạng bờ sau trượt.

  3. Kết quả mô phỏng số đưa ra dự báo gì về diễn biến sạt lở tại cổ rùa bên nhánh phụ? Trả lời: Tính toán mô hình dự báo rằng sau 321 ngày chịu tác động liên tục của dòng chảy và thủy triều, hệ số an toàn mái bờ sẽ tụt xuống dưới 1,0, dẫn đến hiện tượng sạt lở bờ chắc chắn xảy ra với độ rộng vết sạt ăn sâu vào bờ khoảng 3,8 m.

  4. Vì sao công nghệ kè tường đứng bằng cọc bản chắn bê tông cốt thép được lựa chọn cho nhánh sông phụ? Trả lời: Dựa trên phương pháp đánh giá đa tiêu chí SAW chấm điểm 4 nhóm chỉ thị (Kinh tế; Kỹ thuật công trình; Điều kiện công trình; Môi trường và thẩm mỹ), phương án này đạt tổng điểm cao nhất. Giải pháp này phù hợp với lòng nhánh sông phụ hẹp (120 - 220 m), vách dốc đứng (80° - 90°), chịu được xói chân bờ sâu và đảm bảo an toàn cho dải đất hẹp 85 m tại cổ rùa.

Kết luận

Luận án của tác giả Nguyễn Mộng Giang đã xây dựng thành công công cụ tính toán STABI và tích hợp với phần mềm F28 để mô phỏng đồng thời quá trình dòng chảy 3D, xói đáy, xói ngang và sạt lở bờ sông. Nghiên cứu đã làm rõ nguyên nhân gây sạt lở tại Cù lao Rùa xuất phát từ dòng xoáy thứ cấp do khúc sông cong kết hợp với dao động triều và cấu trúc địa chất bất lợi. Trên cơ sở dự báo nguy cơ chia cắt cù lao tại vị trí cổ rùa bên nhánh phụ, công trình đã ứng dụng phương pháp phân tích đa tiêu chí SAW để đề xuất phương án kè tường đứng cọc bản chắn bê tông cốt thép nhằm ổn định bờ và bảo vệ bền vững khu di tích lịch sử - khảo cổ học.