CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ AN NINH MÔI TRƯỜNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT 1. Tổng quan về an ninh phi truyền thống và an ninh môi trường 1. An ninh phi truyền thống Tại Việt Nam, Luật An ninh quốc gia số 32/2004/QH11 ngày 03/12/2004 của Quốc hội đã xác định, an ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ Xã hội Chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Nội dung cơ bản của an ninh quốc gia là bảo vệ lợi ích quốc gia và loại bỏ các mối đe dọa tới lợi ích đó.
Trong bối cảnh hội nhập thế giới sâu, rộng cùng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ, truyền thông, mạng Internet, đầu tư, thương mại, du lịch, giao thoa các nền văn hóa… an ninh của mỗi quốc gia đang đứng trước các nguy cơ mới, tiềm ẩn nhiều hiểm họa khó kiểm soát và dự báo như biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, tội phạm xuyên quốc gia … và những thách thức từ khủng hoảng, bất ổn về kinh tế, chính trị, xã hội. Từ những năm 90 của thế kỷ XX, các chuyên gia, nhà nghiên cứu về vấn đề an ninh nhận định những nguy cơ mới đe dọa nghiêm trọng đến an ninh quốc gia và quốc tế nêu trên chính là vấn đề “an ninh phi truyền thống” (ANPTT) (Non-traditional security) hay “an ninh mềm”. So với An ninh truyền thống (ANTT) hay còn gọi là “an ninh cứng”, các rủi ro và khủng hoảng ANPTT xuất phát từ cả bên trong và bên ngoài quốc gia, cả chủ quan và khách quan trên các lĩnh vực và với tốc độ lan truyền nhanh, hậu quả lớn, khó lường và tác động tiêu cực đến an ninh quốc gia, an ninh con người và an ninh doanh nghiệp. ANTT và ANPTT đều nằm trong nhóm các vấn đề an ninh, là hai mặt của khái niệm an ninh toàn diện.
Quản trị tốt ANTT và ANPTT (những vấn đề an ninh mới) có một vị trí đặc biệt quan trọng để đảm bảo an ninh toàn cầu và an ninh của từng quốc gia. 9 So sánh ANTT và ANPTT có những điểm chung và mới được nêu ở bảng 1.1 dưới đây: Bảng 1. So sánh an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống An ninh Điểm chung Nội An ninh phi truyền Điểm mới STT truyền thống ANTT - dung thống (ANPTT) ANPTT (ANTT) ANPTT Là an ninh Là an ninh của nhà Khái quốc gia. nước, con người và Khái niệm Mối quan hệ 1 niệm Cách tiếp cận doanh nghiệp.
Cách mới khi hội biện chứng. cơ bản lấy Nhà nước tiếp cận lấy con nhập toàn cầu làm trung tâm người làm trung tâm Ổn định và phát triển bền Ổn định và phát Phát triển Mục vững của Nhà triển bền vững của Mối quan hệ theo xu thế 2 tiêu nước, chế độ, Nhà nước, con biện chứng hội nhập toàn chính độc lập, chủ người (cộng đồng) cầu quyền thống và doanh nghiệp nhất lãnh thổ -Nhà nước; Chủ - Con người/Cộng Mối quan hệ Đổi mới nhận 3 thể Nhà nước đồng biện chứng thức chính - Doanh nghiệp -Sức mạnh & nguồn - Quân đội; lực Nhà nước; Thay đổi Công - Công an; - Sức mạnh, nguồn Mối quan hệ nhận thức. 4 cụ - Dân quân tự lực cộng đồng; biện chứng Phải chủ chính vệ. - Sức mạnh & nguồn động.
lực doanh nghiệp. 10 An ninh Điểm chung Nội An ninh phi truyền Điểm mới STT truyền thống ANTT - dung thống (ANPTT) ANPTT (ANTT) ANPTT - Quốc tế (*Ví dụ: Sự tồn tại của An ninh mạng…); Tác động đa Đảng cầm - Khu vực (*Ví dụ Tác chiều, đa mức quyền và thể Đói, dịch bệnh.); động Mối quan hệ độ, đa cấp độ, 5 chế nhà nước - Nhà nước (* tùy trực biện chứng đa lĩnh vực, do Đảng cầm tình huống); tiếp xuyên biên quyền quyết - Con người/Cộng giới… định đồng; - Doanh nghiệp. Trên thế giới hiện nay, các chuyên gia, học giả đã đưa ra nhiều nhiều quan điểm và định nghĩa riêng về ANPTT. Phần lớn các quan điểm đều cho ANPTT thường bao hàm các yếu tố phi quân sự, mở rộng phạm vi ra ngoài một quốc gia, tính lan truyền lớn do xu thế toàn cầu hóa và sự phát triển của nhanh chóng của khoa học công nghệ và liên quan sự ổn định kinh tế, chính trị, xã hội và phát triển bền vững.
Ở Việt Nam, khái niệm ANPTT được nhắc đến vào năm 2005 do một số nhà nghiên cứu thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng đưa ra trong các hội nghị ngành và một số cuộc hội thảo khoa học và tạp chí cộng sản. Trong bối cảnh hợp tác toàn cầu hiện nay, Việt Nam là quốc gia đang phát triển, có vị trí địa 12 lý đặc thù chính vì thế, chúng ta đang ngày càng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức trên tất cả các phương diện, lĩnh vực từ các vấn đề ANPTT. Nhận định được vấn đề trên, tại Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI) đã thông qua Nghị quyết về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới, và đặc biệt nhấn mạnh đến các vấn đề ANPTT. 11 Mặc dù, có nhiều quan điểm và góc nhìn khác nhau, nhưng các chuyên gia đều nhận định ANPTT và ANTT không có tính loại trừ nhau và là hai mặt cấu thành của an ninh quốc gia.
Đặc biệt, trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế, gia tăng dân số, biến đổi khí hậu khôn lường thì chất lượng môi trường sống của con người (đất, nước, không khí, tiếng ồn…) đang là vấn đề của ANPTT cần quan tâm và giải quyết cấp bách. Chúng ta có thể nhận thấy, còn nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề ANPTT. Tuy nhiên, các quan điểm đều thống nhất rằng, ANPTT bao gồm các yếu tố phi quân sự, mới xuất hiện và đe dọa đến loài người không kém gì các vấn đề ANTT. Từ những sự phân tích nói trên, chúng ta có thể khái quát ANPTT là việc bảo đảm an toàn, không có hiểm nguy cho cá nhân con người, quốc gia dân tộc và toàn nhân loại trước các mối đe dọa có nguồn gốc phi quân sự như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, khan hiếm nguồn lực, dịch bệnh lây lan nhanh, khủng hoảng tài chính, an ninh mạng, tội phạm nguy hiểm xuyên biên giới, chủ nghĩa hủng bố,… Các mối đe dọa ANPTT thường lan tỏa nhanh, ảnh hưởng rộng mang tính khu vực hoặc toàn cầu, do tác động bởi mặt trái của kinh tế thị trường, của toàn cầu hóa, của sử dụng thành tựu khoa học công nghệ.
An ninh môi trường Môi trường bao gồm “các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, sự tồn tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên” (Điều 3, Luật Bảo vệ Môi trường số 72/2020/QH14 (Quốc hội, 2020)). Do đó vai trò của môi trường đối với cuộc sống của con người bao gồm: - Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật. Con người chỉ có thể tồn tại và phát triển trong không gian môi trường. - Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người: tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khí quyển, tài nguyên sinh học, tài nguyên khoáng sản, năng lượng… 12 - Môi trường là nơi chứa đựng và đồng hóa các chất thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình.
Phế thải bao gồm nhiều dạng, nhưng chủ yếu chúng được tồn tại ở ba dạng: khí, rắn và lỏng. Ngoài ra còn có các dạng khác như nhiệt, tiếng ồn, hóa chất nguyên tử, phân tử, hợp chất.và tất cả các phế thải do con người tạo ra đều đưa vào môi trường. Tuy nhiên sức chứa và khả năng đồng hóa chất thải của môi trường là có giới hạn. - Môi trường có tác động tích cực hoặc tiêu cực tới cuộc sống của con người, là nơi giảm nhẹ hoặc làm tăng các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất.
Một trong những vấn đề ANPTT nổi cộm hiện nay và được nhiều học giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu là vấn đề an ninh môi trường (ANMT). Đại hội đồng Liên hợp quốc lần đầu tiên đã đề cập tới khái niệm ANMT vào năm 1987 trong một văn bản chính thức: “Quản lý nguồn tài nguyên không hợp lý, lãng phí đều uy hiếp đối với an ninh. Sự biến đổi tiêu cực của môi trường đang uy hiếp đối với sự phát triển… trở thành nguyên nhân của các căng thẳng và tiêu cực xã hội, ảnh hưởng đến nhân loại như đói nghèo, mù chữ, dịch bệnh…”. Trong báo cáo phát triển con người của Liên hợp quốc (UNDP, 1994), ANMT chính thức được nhìn nhận như một trong bảy trụ cột của an ninh con người: an ninh kinh tế, an ninh lương thực, an ninh sức khỏe, ANMT, an ninh cá nhân, an ninh cộng đồng, an ninh chính trị.
Tại Việt Nam, xuất phát từ những nghiên cứu về ANPTT nói chung: “ANMT có thể hiểu là trạng thái phản ánh năng lực tiếp cận an toàn, ổn định và bền vững cho các hoạt động sinh hoạt và sản xuất của con người” (Nguyễn Văn Hưởng, 2016). Đảm bảo ANMT đòi hỏi sự tham gia của 03 chủ thể chính: (i) Nhà nước, (ii) Doanh nghiệp; và (iii) Cộng đồng cùng với sự vận dụng các công cụ chính như: Sức mạnh & nguồn lực Nhà nước; Sức 13 mạnh, nguồn lực cộng đồng; và sức mạnh nguồn lực của doanh nghiệp (Nguyễn Văn Hưởng, 2016). Theo Trần Thị Thúy Hà (2017), có hai nguyên nhân chính gây ra tình trạng mất ANMT ở Việt Nam hiện nay: Thứ nhất, là mất ANMT do thiên tai. Thiên tai là những biến đổi của thiên nhiên làm thiệt hại đến con người và sản xuất.
Nói đến vấn đề thiên tai chúng ta không thể không nhắc đến biến đổi khí hậu. Biến đổi khí hậu có thể nói là một trong những vẫn đề quan trọng hàng đầu của ANMT. Biến đổi khí hậu gây ra rất nhiều biến động khiến môi trường, hệ sinh thái chuyển biến theo chiều hướng xấu. Theo đánh giá của các tổ chức thế giới Việt Nam là một trong những quốc gia phải chịu ảnh hưởng của bão biển bão nhiệt đới và áp thấp nhiệt đới.
Thiên tai, bão lũ hạn hán, do hiện tượng El_Nino diễn ra ngày cảng mạnh mẽ. Thứ hai là, mất ANMT do các hoạt động của con người.