Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp “Đánh giá thực trạng môi trường nước sông Kỳ Cùng đoạn chảy qua thành phố Lạng Sơn - tỉnh Lạng Sơn” được thực hiện bởi sinh viên Vy Thị Trang Nhung, chuyên ngành Địa chính Môi trường, Khoa Quản lý Tài nguyên, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (năm 2015), dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Đỗ Thị Lan.

Về bối cảnh thực tiễn, thành phố Lạng Sơn là đô thị loại III (được nâng cấp từ thị xã năm 2002), diện tích tự nhiên 78,11 km², gồm 5 phường trung tâm và 3 xã ngoại thành. Nằm bên tuyến Quốc lộ 1A, cách biên giới Việt Nam - Trung Quốc 18 km và cách Hữu Nghị Quan 15 km, thành phố giữ vị trí đầu mối thương mại, cửa ngõ giao lưu kinh tế quan trọng. Đi cùng tốc độ đô thị hóa nhanh và phát triển thương mại - dịch vụ, nhu cầu khai thác nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất tăng cao, kéo theo áp lực xả thải ngày càng lớn lên môi trường tiếp nhận.

Sông Kỳ Cùng là trục thủy văn chính của tỉnh Lạng Sơn với tổng chiều dài 243 km, diện tích lưu vực 6.660 km², bắt nguồn từ vùng núi Bắc Xa (độ cao 1.166 m, huyện Đình Lập) và chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc trước khi đổ sang Trung Quốc thuộc lưu vực sông Tây Giang. Đoạn sông chảy qua địa bàn thành phố Lạng Sơn có chiều dài khoảng 19 km, chiều rộng trung bình 100 m, lưu lượng dòng chảy trung bình dưới 2.300 m³/s, đóng vai trò trực tiếp trong việc cung cấp nước sinh hoạt và tưới tiêu nông nghiệp cho cư dân đô thị và vùng phụ cận. Hoạt động xả thải sinh hoạt, sản xuất, y tế chưa qua xử lý đồng bộ đang tạo ra nguy cơ ô nhiễm nguồn nước mặt nghiêm trọng.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định gồm 3 nội dung:

  1. Đánh giá chất lượng môi trường nước tại thành phố Lạng Sơn.
  2. Đánh giá thực trạng quản lý môi trường và hiện trạng chất lượng nước sông Kỳ Cùng đoạn chảy qua thành phố Lạng Sơn.
  3. Chỉ ra các nguyên nhân gây ô nhiễm và đề xuất hệ thống giải pháp nhằm đảm bảo, nâng cao chất lượng môi trường nước sông Kỳ Cùng đoạn chảy qua thành phố Lạng Sơn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Môi trường nước sông Kỳ Cùng đoạn chảy qua địa bàn thành phố Lạng Sơn và các nguồn thải chính đổ trực tiếp hoặc gián tiếp vào lưu vực sông.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, tập trung vào các điểm quan trắc trên sông Kỳ Cùng, các hồ đô thị, suối nhánh Lao Ly và hệ thống xả thải.
  • Phạm vi thời gian: Quá trình thực tập, thu thập số liệu tiến hành từ ngày 07/01/2015 đến ngày 07/04/2015 tại Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Lạng Sơn; chuỗi số liệu quan trắc môi trường kế thừa trong giai đoạn 2012–2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm chuẩn tắc của Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 (quy định về môi trường, tiêu chuẩn môi trường, ô nhiễm môi trường, chất thải, quan trắc môi trường) và Luật Tài nguyên nước năm 1998/2012 (khái niệm nước mặt). Khung phân tích chất lượng nước áp dụng theo hướng dẫn của ESCAP (1994), phân loại các thông số kiểm soát thành ba nhóm chính:

  • Nhóm thông số lý học: Nhiệt độ, độ pH.
  • Nhóm thông số hóa học: Nhu cầu oxy sinh học (BOD₅), nhu cầu oxy hóa học (COD), oxy hòa tan (DO), tổng chất rắn lơ lửng (TSS), nitrit (NO₂⁻), nitrat (NO₃⁻), amoni (NH₄⁺), cùng các kim loại nặng (Fe, Pb, Zn, Hg, As...).
  • Nhóm thông số sinh học: Vi sinh vật chỉ thị Coliform.

Cơ sở pháp lý và quy chuẩn kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu bao gồm:

  • Luật Bảo vệ Môi trường 2014 (hiệu lực từ 01/01/2015); Luật Tài nguyên nước 2012;
  • Nghị định số 19/2015/NĐ-CP và Nghị định số 179/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
  • Thông tư số 29/2011/TT-BTNMT quy định quy trình kỹ thuật quan trắc môi trường nước mặt lục địa; Thông tư số 27/2014/TT-BTNMT;
  • QCVN 08:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt (sử dụng cột B1: dùng cho mục đích tưới tiêu thủy lợi hoặc các mục đích sử dụng khác có yêu cầu chất lượng nước tương tự);
  • QCVN 09:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm;
  • QCVN 14:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt;
  • Quyết định số 505/QĐ-BYT năm 1993 của Bộ Y tế về tiêu chuẩn vệ sinh môi trường.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai cụ thể:

  • Phương pháp kế thừa và thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập báo cáo hiện trạng môi trường, tài liệu quan trắc định kỳ từ Phòng Thẩm định - Đánh giá tác động môi trường và Trung tâm Quan trắc Môi trường thuộc Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Lạng Sơn; số liệu kinh tế - xã hội từ Niên giám thống kê thành phố Lạng Sơn năm 2014.
  • Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa và lấy mẫu: Lấy mẫu tại 3 vị trí trọng điểm trên sông Kỳ Cùng gồm Cầu Mai Pha (xã Mai Pha - NM3), Cầu Ngầm (phường Chi Lăng - NM1), và khu vực Tam Thanh (phường Tam Thanh - NM2); cùng các điểm nước mặt đô thị (Hồ Phai Món, Hồ Phai Loạn, Hồ Nà Tâm, Suối Lao Ly), các giếng nước ngầm và cống xả thải. Thiết bị lấy mẫu sử dụng các loại ống hình trụ Ruttner, Kemmerer, Friedinger, Dussart, Valas và Vondorn. Quy trình kỹ thuật lấy mẫu, bảo quản và vận chuyển tuân thủ TCVN 5992:1995 (ISO 5667-2:1991), TCVN 5993:1995 (ISO 5667-3:1985) và TCVN 5996:1995 (ISO 5667-6:1990).
  • Phương pháp tổng hợp, xử lý và so sánh: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để thống kê, vẽ biểu đồ diễn biến và so sánh đối chiếu giá trị đo đạc với ngưỡng giới hạn quy định tại các QCVN hiện hành.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sức ép của tiến trình đô thị hóa lên tài nguyên nước mặt sông Kỳ Cùng – nguồn cấp nước trọng yếu của thành phố Lạng Sơn. Phần này xác định rõ 3 mục tiêu cụ thể, 5 yêu cầu kỹ thuật cần đạt được (phản ánh số liệu trung thực, khách quan, đối chiếu QCVN 08:2008/BTNMT) cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong công tác quản lý tài nguyên môi trường tại địa phương.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Nội dung chương tổng hợp cơ sở lý thuyết về tài nguyên nước và các chỉ số hóa lý - sinh học; tổng thuật tình trạng ô nhiễm nước sông trên thế giới (sông Citarum - Indonesia, sông Hằng - Ấn Độ, sông Mississippi - Mỹ, sông Hoàng Hà - Trung Quốc) và tại các lưu vực sông trọng điểm ở Việt Nam (sông Cầu, sông Đồng Nai - Sài Gòn - Thị Vải, sông Tiền - sông Hậu, sông Thương). Chương này cũng làm rõ chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Lạng Sơn và Trung tâm Quan trắc Môi trường tỉnh Lạng Sơn trong công tác giám sát, kiểm soát ô nhiễm nước tại địa bàn.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết địa điểm thực tập, thời gian nghiên cứu (07/01/2015 – 07/04/2015), nội dung điều tra thực địa, phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, các chỉ tiêu nghiên cứu cụ thể (pH, DO, TSS, BOD₅, COD, NO₂⁻, NO₃⁻, kim loại nặng, Coliform) và phương pháp lấy mẫu, phân tích theo tiêu chuẩn TCVN cùng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương tập trung vào các kết quả phân tích số liệu thực tế qua các nhóm nội dung:

  • Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Diện tích đất tự nhiên đạt 7.811,14 ha (đất nông nghiệp chiếm 73,6%, đất phi nông nghiệp chiếm 25,4%, đất chưa sử dụng chiếm 1,0%). Tổng sản phẩm (GDP) năm 2014 đạt 3.782 tỷ đồng, trong đó thương mại - dịch vụ chiếm ưu thế (69,3%), công nghiệp - xây dựng chiếm 27,9%, nông lâm nghiệp chiếm 2,8%. Dân số năm 2014 đạt 90.678 người (mật độ 1.161 người/km²).
  • Tình hình quản lý môi trường: Hệ thống quản lý môi trường được tổ chức chặt chẽ từ UBND tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Cảnh sát Môi trường (PC46), Chi cục Bảo vệ Môi trường, Phòng Tài nguyên nước và Khí tượng thủy văn tới UBND thành phố Lạng Sơn và Phòng Tài nguyên Môi trường thành phố. Công tác quan trắc thực hiện định kỳ 2 lần/năm từ nguồn ngân sách tỉnh. Tuy nhiên, lực lượng cán bộ chuyên môn còn mỏng, cán bộ trẻ thiếu kinh nghiệm thực tiễn và thiếu sự đồng bộ trong phối hợp liên ngành.
  • Đánh giá chất lượng môi trường nước thành phố Lạng Sơn năm 2014:
    • Môi trường nước mặt đô thị: Phân tích 5 vị trí (Hồ Phai Món, Sông Kỳ Cùng tại Cầu Ngầm, Suối Lao Ly, Hồ Phai Loạn, Hồ Nà Tâm). Kết quả đợt 2/2014 cho thấy Hồ Phai Món bị phú dưỡng nghiêm trọng (DO chỉ đạt 2,71 mg/l; TSS đạt 133 mg/l – vượt 2,66 lần chuẩn B1; COD đạt 36,8 mg/l – vượt 1,23 lần; BOD₅ đạt 22 mg/l – vượt 1,47 lần; Coliform đạt 30.600 MPN/100ml – vượt 4,08 lần). Hồ Phai Loạn có hàm lượng NO₂⁻ đạt 0,31 mg/l (vượt 7,75 lần). Suối Lao Ly tại Phố Muối có TSS đạt 66 mg/l (vượt 1,32 lần). Điểm Sông Kỳ Cùng tại Cầu Ngầm có TSS đạt 96 mg/l (vượt 1,92 lần do lấy mẫu sau mưa bão). Hồ Nà Tâm đạt toàn bộ các quy chuẩn.
    • Môi trường nước ngầm: Phân tích 5 trạm bơm/giếng khoan (NN1 đến NN5). Phần lớn các thông số lý hóa đều nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 09:2008/BTNMT. Tuy nhiên, chỉ tiêu NO₃⁻ tại giếng khoan phường Hoàng Văn Thụ vượt 1,1 lần quy chuẩn; chỉ tiêu Coliform vượt quy chuẩn tại trạm bơm H7 Tam Thanh (vượt 1,67 lần, đạt 5 MPN/100ml), trạm bơm H3 Hoàng Văn Thụ (vượt 1,33 lần, đạt 4 MPN/100ml) và trạm bơm D2 Chi Lăng (vượt 2,0 lần, đạt 6 MPN/100ml).
    • Môi trường nước thải: Khảo sát 5 vị trí xả thải (V1 đến V5) cho thấy ô nhiễm nghiêm trọng:
      • V1 (Cống thải Bệnh viện Đa khoa tỉnh): TSS (98 mg/l, vượt 1,96 lần), TDS (529 mg/l, vượt 10,58 lần), BOD₅ (472 mg/l, vượt 15,73 lần), N tổng (56 mg/l, vượt 1,12 lần), Coliform (16.700 MPN/100ml, vượt 5,56 lần).
      • V2 (Nước thải Chợ Giếng Vuông): TSS đạt 1.742 mg/l (vượt 34,84 lần), TDS đạt 379 mg/l (vượt 7,57 lần), BOD₅ đạt 280 mg/l (vượt 9,3 lần), N tổng vượt 1,18 lần, Coliform đạt 15.200 MPN/100ml (vượt 15,2 lần).
      • V3 (Nước thải Nhà hàng Lạng Sơn): TSS đạt 1.719 mg/l (vượt 34,38 lần), TDS đạt 861 mg/l (vượt 17,22 lần), BOD₅ đạt 368 mg/l (vượt 12,27 lần), N tổng vượt 1,56 lần, Coliform đạt 58.300 MPN/100ml (vượt 19,43 lần).
      • V4 (Đoạn cuối suối Lao Ly - đường Trần Phú): TSS đạt 1.007 mg/l (vượt 20,14 lần), TDS đạt 429 mg/l (vượt 8,58 lần), BOD₅ đạt 852 mg/l (vượt 28,4 lần), N tổng đạt 106,7 mg/l (vượt 2,13 lần), P tổng đạt 12,93 mg/l (vượt 1,29 lần), Coliform đạt 50.900 MPN/100ml (vượt 16,97 lần).
      • V5 (Rãnh thoát nước khối 4 - phường Đông Kinh): TSS đạt 986 mg/l (vượt 19,72 lần), TDS đạt 220 mg/l (vượt 4,4 lần), BOD₅ đạt 762 mg/l (vượt 25,4 lần), N tổng đạt 92,4 mg/l (vượt 1,85 lần), P tổng đạt 18,14 mg/l (vượt 1,81 lần), Coliform đạt 25.400 MPN/100ml (vượt 8,46 lần).
  • Thực trạng môi trường nước sông Kỳ Cùng giai đoạn 2012–2014 và chi tiết năm 2012: Chất lượng nước sông Kỳ Cùng năm 2012 được tổng hợp qua 2 đợt lấy mẫu tại 3 vị trí (bảng số liệu dưới đây). Phần lớn các thông số đều nằm trong ngưỡng QCVN 08:2008/BTNMT cột B1. Cục bộ tại Cầu Ngầm (NM1) vào đợt 1 có TSS đạt 72 mg/l (vượt 1,44 lần quy chuẩn); tại Tam Thanh (NM2) vào đợt 1 có COD đạt 31,2 mg/l (vượt 1,04 lần quy chuẩn, BOD₅ chạm trần 15 mg/l).
  • Nguyên nhân gây ô nhiễm: Được tổng hợp từ 5 nguồn phát sinh: nước thải sinh hoạt đô thị chưa qua xử lý tập trung; nước thải sản xuất từ 480 cơ sở công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp; dư lượng phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật từ sản xuất nông nghiệp; nước thải thương mại từ các chợ lớn và nhà hàng; nước thải y tế chưa đạt chuẩn xả thẳng từ Bệnh viện Đa khoa tỉnh.
  • Đề xuất giải pháp: Khóa luận đưa ra nhóm giải pháp chung (kiện toàn bộ máy quản lý, đào tạo chuyên môn, tăng cường kinh phí, đẩy mạnh tuyên truyền cộng đồng, tăng cường thanh tra - kiểm tra theo Nghị định 179/2013/NĐ-CP) và các giải pháp kỹ thuật cụ thể (xây dựng trạm xử lý nước thải đô thị tập trung, cải tạo hệ thống xử lý nước thải Bệnh viện Đa khoa tỉnh, kiểm soát xả thải chợ Giếng Vuông và nhà hàng, nạo vét suối Lao Ly, hướng dẫn sử dụng an toàn phân bón và thuốc bảo vệ thực vật).

Bảng tổng hợp chất lượng nước sông Kỳ Cùng năm 2012

STT Chỉ tiêu Đơn vị Đợt 1 (NM1) Đợt 1 (NM2) Đợt 1 (NM3) Đợt 2 (NM1) Đợt 2 (NM2) Đợt 2 (NM3) QCVN 08:2008/BTNMT (Cột B1)
1 pH - 8,18 7,96 8,21 7,67 7,32 7,42 5,5 - 9,0
2 DO mg/l 5,21 4,77 4,35 5,23 5,16 5,13 ≥ 4,0
3 COD mg/l 5,3 31,2 6,3 7,5 20,1 6,5 30
4 BOD₅ mg/l 2,5 15,0 3,0 3,0 10,0 3,0 15
5 TSS mg/l 72,0 11,4 3,2 16,2 15,1 14,7 50
6 NO₃⁻ mg/l 0,723 0,085 0,341 0,445 0,071 0,159 10
7 Fe mg/l 0,035 0,275 0,063 0,029 0,035 0,062 1,5
8 Pb mg/l 0,001 0,002 0,001 0,001 0,001 0,001 0,05
9 Coliform MPN/100ml 23 240 90 40 160 24 7.500

(Ghi chú: NM1: Cầu Ngầm, phường Chi Lăng; NM2: Khu vực phường Tam Thanh; NM3: Cầu Mai Pha, xã Mai Pha).


Kết quả và đóng góp

Về mặt kết quả định lượng, khóa luận đã lượng hóa chi tiết mức độ ô nhiễm của các nguồn nước tại thành phố Lạng Sơn:

  • Nước mặt sông Kỳ Cùng: Trong năm 2012, chất lượng nước cơ bản đáp ứng mục tiêu sử dụng loại B1 theo QCVN 08:2008/BTNMT. Tuy nhiên, đã xuất hiện hiện tượng ô nhiễm cục bộ chất lơ lửng tại Cầu Ngầm (TSS = 72 mg/l, vượt chuẩn 1,44 lần) và ô nhiễm chất hữu cơ tại Tam Thanh (COD = 31,2 mg/l, vượt chuẩn 1,04 lần; BOD₅ = 15 mg/l). Đến năm 2014, điểm Cầu Ngầm sau mưa bão ghi nhận TSS lên tới 96 mg/l (vượt chuẩn 1,92 lần).
  • Nước thải đô thị và điểm xả: Toàn bộ 5 điểm xả thải chính trên địa bàn đều vượt quy chuẩn QCVN 14:2008/BTNMT ở mức rất cao. Đáng lưu ý, BOD₅ tại đoạn cuối suối Lao Ly đạt 852 mg/l (vượt chuẩn 28,4 lần), tại rãnh thoát nước khối 4 Đông Kinh đạt 762 mg/l (vượt chuẩn 25,4 lần), tại nước thải y tế sau Bệnh viện Đa khoa tỉnh đạt 472 mg/l (vượt chuẩn 15,73 lần). Nồng độ Coliform tại tất cả các điểm xả dao động từ 15.200 đến 58.300 MPN/100ml (vượt chuẩn từ 5,0 đến 19,43 lần).
  • Nước ngầm: Nguồn nước ngầm tại khu vực các trạm bơm H7, H3, D2 bị nhiễm vi sinh với hàm lượng Coliform từ 4 đến 6 MPN/100ml (vượt từ 1,33 đến 2,0 lần QCVN 09:2008/BTNMT) do vị trí giếng khoan, giếng đào gần khu dân cư và chuồng trại chăn nuôi không đảm bảo vệ sinh.

Về đóng góp thực tiễn, tác giả đã:

  • Xây dựng bức tranh toàn diện về hiện trạng môi trường nước mặt, nước ngầm và hệ thống nước thải của thành phố Lạng Sơn dựa trên chuỗi số liệu quan trắc thực tế 2012–2014.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp phân cấp cụ thể gắn liền với điều kiện tài chính và hạ tầng của thành phố Lạng Sơn, chỉ rõ địa chỉ cần ưu tiên đầu tư xử lý (hệ thống xử lý nước thải bệnh viện và trạm xử lý nước thải sinh hoạt đô thị tập trung).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn một số điểm hạn chế do giới hạn điều kiện nghiên cứu:

  • Thời gian thực tập tốt nghiệp chỉ kéo dài 3 tháng (từ 07/01/2015 đến 07/04/2015), nghiên cứu phụ thuộc chủ yếu vào nguồn số liệu quan trắc thứ cấp định kỳ (2 đợt/năm) của cơ quan quản lý nhà nước mà chưa tự tiến hành các chiến dịch lấy mẫu liên tục theo mùa khô và mùa mưa.
  • Phạm vi quan trắc trên sông Kỳ Cùng mới tập trung vào 3 điểm đại diện trên đoạn chảy qua đô thị, chưa khảo sát mở rộng toàn diện tải lượng ô nhiễm từ lưu vực đầu nguồn (huyện Lộc Bình) và hạ lưu trước khi qua biên giới (huyện Tràng Định).

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng mạng lưới trạm quan trắc tự động liên tục trên lưu vực sông Kỳ Cùng từ Lộc Bình qua thành phố Lạng Sơn đến đồn biên phòng Bình Nghi (huyện Tràng Định).
  • Nghiên cứu mô hình hóa khả năng tự làm sạch, sức chịu tải ô nhiễm của sông Kỳ Cùng để phục vụ quy hoạch xả thải và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước xuyên biên giới.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên các ngành Quản lý Tài nguyên, Quản lý Môi trường, Địa chính Môi trường, Kỹ thuật Môi trường trong việc tiếp cận phương pháp đánh giá chất lượng nước lưu vực sông và kỹ thuật phân tích số liệu quan trắc theo các QCVN môi trường.
  • Cán bộ quản lý tại Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Lạng Sơn, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Lạng Sơn sử dụng làm cơ sở đối sánh dữ liệu lịch sử môi trường nước giai đoạn 2012–2014 phục vụ quy hoạch hạ tầng thoát nước và xử lý nước thải đô thị.
  • Phần đáng tham khảo nhất của tài liệu là hệ thống bảng số liệu kiểm nghiệm thực tế của 5 điểm nước mặt, 5 trạm nước ngầm và 5 điểm nước thải năm 2014, cùng bảng đối chiếu các chỉ tiêu quan trắc sông Kỳ Cùng năm 2012 theo QCVN 08:2008/BTNMT.

Câu hỏi thường gặp

1. Đặc điểm thủy văn của đoạn sông Kỳ Cùng chảy qua thành phố Lạng Sơn được ghi nhận như thế nào?

Đoạn sông Kỳ Cùng chảy qua thành phố Lạng Sơn có chiều dài khoảng 19 km, chiều rộng trung bình khoảng 100 m, lưu lượng dòng chảy trung bình dưới 2.300 m³/s. Sông chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc qua trung tâm thành phố, giữ vai trò cấp nước sinh hoạt và tưới tiêu nông nghiệp.

2. Chất lượng nước sông Kỳ Cùng năm 2012 tại 3 điểm quan trắc có các chỉ tiêu nào vượt ngưỡng QCVN 08:2008/BTNMT (cột B1)?

Năm 2012, hầu hết các chỉ tiêu đều đạt chuẩn B1, chỉ có hai chỉ tiêu vượt quy chuẩn trong đợt quan trắc thứ nhất:

  • Hàm lượng tổng chất rắn lơ lửng (TSS) tại Cầu Ngầm (NM1) đạt 72 mg/l (vượt 1,44 lần so với mức chuẩn 50 mg/l).
  • Nhu cầu oxy hóa học (COD) tại khu vực Tam Thanh (NM2) đạt 31,2 mg/l (vượt 1,04 lần so với mức chuẩn 30 mg/l).

3. Nước thải tại Cống thải sau Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn (năm 2014) có những thông số nào vượt quy chuẩn QCVN 14:2008/BTNMT?

Theo kết quả phân tích đợt 2 năm 2014, cống thải sau bệnh viện (điểm V1) có 5 chỉ tiêu vượt chuẩn:

  • BOD₅ đạt 472 mg/l (vượt 15,73 lần);
  • TDS đạt 529 mg/l (vượt 10,58 lần);
  • Coliform đạt 16.700 MPN/100ml (vượt 5,56 lần);
  • TSS đạt 98 mg/l (vượt 1,96 lần);
  • N tổng đạt 56 mg/l (vượt 1,12 lần).

4. Tình trạng ô nhiễm nước ngầm tại thành phố Lạng Sơn năm 2014 biểu hiện ở những chỉ tiêu nào?

Kết quả phân tích 5 mẫu nước ngầm đợt 2 năm 2014 cho thấy phần lớn chỉ tiêu đạt chuẩn, ngoại trừ:

  • Chỉ tiêu NO₃⁻ tại giếng khoan phường Hoàng Văn Thụ vượt 1,1 lần quy chuẩn QCVN 09:2008/BTNMT.
  • Chỉ tiêu Coliform vượt chuẩn tại 3 trạm bơm: trạm D2 phường Chi Lăng (vượt 2,0 lần, đạt 6 MPN/100ml), trạm H7 phường Tam Thanh (vượt 1,67 lần, đạt 5 MPN/100ml) và trạm H3 phường Hoàng Văn Thụ (vượt 1,33 lần, đạt 4 MPN/100ml).

5. Những nguồn thải chính nào gây ô nhiễm môi trường nước sông Kỳ Cùng đoạn qua thành phố Lạng Sơn?

Khóa luận chỉ ra 5 nguồn thải chính:

  1. Nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư đô thị chưa qua hệ thống xử lý tập trung, xả qua rãnh thoát nước và suối Lao Ly.
  2. Nước thải thương mại, dịch vụ từ các chợ (tiêu biểu là Chợ Giếng Vuông) và hệ thống nhà hàng.
  3. Nước thải sản xuất từ 480 cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn.
  4. Nước thải nông nghiệp mang theo dư lượng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật từ các vùng canh tác ven sông.
  5. Nước thải y tế chưa xử lý triệt để từ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vy Thị Trang Nhung đã cung cấp đánh giá có căn cứ thực nghiệm về hiện trạng chất lượng nước sông Kỳ Cùng và môi trường nước thành phố Lạng Sơn giai đoạn 2012–2014. Kết quả nghiên cứu khẳng định nước sông Kỳ Cùng bắt đầu chịu áp lực ô nhiễm hữu cơ và chất rắn lơ lửng cục bộ, trong khi các nguồn nước thải đô thị, thương mại và y tế đều vượt ngưỡng quy chuẩn kỹ thuật cho phép nhiều lần. Trên cơ sở đó, công trình đã đề xuất hệ thống giải pháp quản lý và kỹ thuật phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương nhằm giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ bền vững tài nguyên nước mặt.