MỞ ĐẦU Trong xã hội hiện đại, khi nền kinh tế ngày một phát triển cộng với áp lực về công việc và thời gian khiến cho chế độ ăn của con người trở nên mất cân đối là một trong những nguyên nhân lớn dẫn đến bệnh tim mạch. Bệnh tim mạch đang là nguyên nhân gây tử vong số một trên thế giới (www. Bệnh tim mạch làm chết 7 triệu người mỗi năm và chiếm 12,2% các ca tử vong trên toàn thế giới [41]. Xu hướng này sẽ tiếp tục gia tăng trong hai thập kỷ tiếp theo và gây ra những tác động lớn hơn ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, nơi chiếm tới 3/4 số ca tử vong do tim mạch vào năm 2001 [13, 55].
Bệnh tim mạch là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở các nước Mỹ Latinh, Caribe, các nước Trung Đông và cả Châu Phi. Tử vong do tim mạch dự kiến sẽ tăng gấp 3 lần trong 20 năm tới [55]. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến các bệnh tim mạch là do chứng tắc nghẽn mạch máu. Do đó để hạn chế thấp nhất tỷ lệ tử vong và các biến chứng do bệnh tim mạch gây ra, các nhà khoa học đi theo hướng phòng ngừa và xử lý các huyết khối hình thành trong mạch.
Trên thị trường hiện nay có một số thuốc đặc trị tắc nghẽn mạch máu như Durakinase, Streptase, Alteplase, Tenecteplase Tuy nhiên, đây hầu hết là các sản phẩm của nước ngoài với giá thành rất đắt. Nghiên cứu so sánh không thấy sự khác biệt về ưu thế của các loại thuốc trên [21]. Sự khác biệt lớn nhất là giá cả, thuốc có bản chất r-tPA có giá gấp gần 10 lần streptokinase. Do đó, streptokinase thường được sử dụng hơn ở các nước đang phát triển.
Ở Việt Nam chưa có nhiều công trình nghiên cứu về các thuốc tan huyết. Đề tài KC10 (2009-2010) có thể coi là công trình nghiên cứu cấp nhà nước đầu tiên về lĩnh vực này. Trong đề tài này các nhà nghiên cứu đã nhân dòng, biểu hiện và tinh sạch thành công streptokinase. Streptokinase được biểu hiện cả ở dạng có tín hiệu và không có tín hiệu (mSK), trong đó mSK với hoạt tính cao hơn.
Streptokinase tái tổ hợp bước đầu được thử nghiệm trên đối tượng thỏ thí nghiệm cho kết quả tốt. 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Thương Để hạn chế thấp nhất tỷ lệ tử vong và các biến chứng của chứng tắc nghẽn mạch máu thì thời gian xử lý huyết khối trong mạch là một yếu tố vô cùng quan trọng. Thuốc tan huyết khối dạng tiêm được sử dụng rộng rãi hơn. Tuy nhiên, thuốc dạng tiêm đòi hỏi phải có độ tinh khiết cao, trong khi các enzyme tái tổ hợp thông thường thường dung hợp đuôi 6xhistidine (6xhis) để thuận tiện cho quá trình tinh sạch và việc dung hợp đuôi 6xhis được xem là có thể gây tác dụng phụ cho con người.
Trên cơ sở đó, trong khuôn khổ đề tài KC10 “Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ sản xuất chế phẩm enzyme tái tổ hợp streptokinase và yếu tố hoạt hóa plasminogen mô (tPA) sử dụng trong điều trị” chúng tôi thực hiện đề tài luận văn “Nhân dòng, biểu hiện và tinh sạch streptokinase tái tổ hợp trong E. coli” với dạng streptokinase tái tổ hợp không dung hợp đuôi 6xhistidine để tiến tới sản xuất dược phẩm sinh học điều trị chứng tắc nghẽn mạch máu, có ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn cao. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Chứng tắc nghẽn mạch máu 1.1 Quá trình đông máu Đông máu là quá trình máu chuyển từ thể lỏng sang thể đặc. Bình thường đây là một cơ chế quan trọng giúp cơ thể sửa chữa những mạch máu bị tổn thương và chống mất máu do bị tổn thương thành mạch.
Quá trình đông máu phụ thuộc vào các yếu tố đông máu (bảng 1.1) và gồm ba giai đoạn. Giai đoạn tạo thành prothrombinase Quá trình này xảy ra khi có chấn thương thành mạch, khi có sự tiếp xúc với collagen của thành mạch, với các mô khác ngoài nội mạc hoặc bất cứ vật lạ nào. Sự tạo thành prothrombinase được thực hiện theo hai cơ chế nội sinh và ngoại sinh (hình 1. Hai cơ chế này chỉ khác nhau ở giai đoạn hình thành yếu tố X hoạt hóa (Xa).
2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Thương Cơ chế ngoại sinh: Khi máu tiếp xúc với mạch máu bị tổn thương, mô ở vị trí tổn thương giải phóng ra yếu tố III (thromboplastin mô) và phospholipid. Yếu tố III hoạt hóa yếu tố X thành yếu tố Xa. Sự hình thành phức hợp prothrombinase từ yếu tố Xa có sự tham gia của yếu tố Va, ion Ca2+ và phospholipid. Yếu tố Va làm tăng hoạt tính của yếu tố Xa.
Phospholipid đóng vai trò là chất nền còn ion Ca2+ làm cầu nối giữa các yếu tố. Thrombin trong trường hợp này có tác dụng điều hòa. Cơ chế nội sinh: Khi máu tiếp xúc với collagen của thành mạch bị tổn thương hoặc bề mặt vật lạ sẽ làm hoạt hóa yếu tố XII thành yếu tố XIIa và giải phóng phospholipid tiểu cầu. Yếu tố XIIa chuyển yếu tố XI thành yếu tố XIa (có sự tham gia của yếu tố Fletcher và Fitzgerald).
Yếu tố XIa chuyển yếu tố IX thành yếu tố IXa (có sự tham gia của yếu tố tiểu cầu). Yếu tố X được hoạt hóa có sự tham gia của yếu tố VIIIa (yếu tố VIII được hoạt hóa nhờ thrombin), yếu tố IXa, ion Ca2+ và phospholipid. Sự hình thành phức hợp prothrombinase từ yếu tố Xa có sự tham gia của phospholipid, yếu tố Va (yếu tố V được hoạt hóa nhờ thrombin) và ion Ca 2+. Prothrombinase được hình thành từ cơ chế nội sinh hoặc ngoại sinh hoặc đồng thời cả hai cơ chế nội sinh và ngoại sinh.
Điều này chứng tỏ hoạt tính của prothrombinase là phụ thuộc vào sự hoạt hóa của các yếu tố tham gia vào quá trình này. Các yếu tố đông máu. Các yếu tố Tên gọi và vai trò I Fibrinogen, là một loại globulin, do gan tổng hợp đưa vào máu. Prothrombin, là một protein huyết tương do gan sinh ra.
Sự tổng hợp II prothrombin liên quan chặt chẽ đến sự hấp thụ vitamin K. Nếu rối loạn hấp thụ vitamin K ở đường tiêu hóa sẽ dẫn đến giảm prothrombin. Thromboplastin, enzyme tạo ra khi tiểu cầu bị vỡ, hoặc mô bị tổn III thương. IV Ion Ca2+ có trong huyết tương, có tác dụng hoạt hóa prothrombin.
Proaccelerin, một loại globulin, do gan sinh ra, làm tăng tốc độ đông V máu. VI Dạng hoạt hoá của yếu tố V. VII Proconvectin, yếu tố xúc tiến tạo Thrombin. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Thương Yếu tố chống chảy máu A, có trong huyết tương, có vai trò quan trọng VIII trong sự tạo thành thromboplastin nội sinh.
Nếu thiếu yếu tố này, máu vẫn đông nhưng cục máu mềm, dễ di động. Yếu tố chống chảy máu B, cũng là một protein huyết tương, cần cho sự IX tạo thành thromboplastin. Yếu tố stuart, có trong huyết tương, do gan sinh ra tương đối bền vững X có tác dụng trong sự tạo thành thromboplastin và chuyển prothrombin thành thrombin. Prothromboplastin - có sẵn trong huyết tương, có vai trò tập trung tiểu XI cầu.
Yếu tố hageman, có trong huyết tương, có tác dụng hoạt hoá sự đông XII máu. Yếu tố ổn định fibrin, có sẵn trong huyết tương, có tác dụng củng cố sợi XIII fibrin thêm vững chắc. Con đƣờng ngoại sinh Con đƣờng nội sinh Mô tổn thương Thành mạch tổn thương Yếu tố XII Yếu tố XIIa Yếu tố mô Ca2+ Yếu tố XI Yếu tố XIa Yếu tố VII Yếu tố VIIa Ca2+ Ca2+, Yếu tố IXa Yếu tố IX phospholipid Ca2+, yếu tố VIII phospholipid Yếu tố X 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Thương Yếu tố X Yếu tố Xa Ca2+, yếu tố VIII phospholipid Yếu tố VII Yếu tố Va, VIIIa Prothrombin (yếu tố II ) Thrombin Ca2+ Sợi fibrin Yếu tố XIII Yếu tố XIIIa Cục máu đông Hình 1. Giai đoạn tạo thành thrombin Prothrombinase tạo ra theo cơ chế nội sinh và (hoặc) ngoại sinh cùng với Ca2+ xúc tác cho phản ứng chuyển prothrombin thành thrombin.
Sự hình thành thrombin từ prothrombin là rất nhanh, được tính bằng vài giây. Giai đoạn tạo thành fibrin và cục máu đông Fibrinogen là một protein do gan sản xuất, nồng độ trong máu bình thường là 100-700 mg/100 ml máu. Bình thường fibrinogen rất khó vào dịch kẽ. Khi thành mạch tăng tính thấm (mô bị viêm) thì fibrinogen vào dịch kẽ và bị đông lại do các yếu tố gây đông máu cùng vào dịch kẽ.
Dưới tác dụng của thrombin, fibrinogen dạng hòa tan chuyển thành fibrin đơn phân dạng không hòa tan. Các fibrin đơn phân tự trùng hợp thành fibrin ở dạng sợi nhờ yếu tố XIII. Giai đoạn này cũng có sự tham gia của ion Ca2+. Các tế bào máu được giữ lại trên lưới fibrin và tạo nên cục máu 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Thương đông.
Như vậy bản chất của quá trình đông máu là hình thành lưới fibrin từ fibrinogen nhờ thrombin.2 Cơ chế tan máu đông Cục máu đông có thể tan trở lại nhờ quá trình tiêu fibrin (fibrinolysis). Đây là một quá trình ngược với đông máu (hình 1. Tiêu fibrin là một quá trình sinh lý, nhằm làm tan cục máu đông được tạo thành ở giai đoạn trước đó, tái lưu thông tuần hoàn máu. Các yếu tố tham gia gồm có plasminogen, plasmin và các chất hoạt hóa.
Plasminogen: Là tiền tố của plasmin, ở dạng bất hoạt. Hàm lượng trong huyết tương là 0,2 µg/ml. Plasminogen là một chuỗi polypeptide 791 amino acid, bình thường tồn tại ở dạng Glu-plasminogen (dạng nguyên vẹn), khi có tác động của plasmin, Glu-plasminogen tách ra một số peptide nhỏ, phần còn lại là Lys-plasminogen. Plasmin: Các chất hoạt hóa sẽ chuyển plasminogen thành plasmin.
Plasmin gồm hai chuỗi polypeptide, nối với nhau bằng một cầu nối disulfide: chuỗi nhẹ gắn với serine-protease, chuỗi nặng có vị trí gắn với fibrin. Khi fibrin xuất hiện, lập tức xảy ra hiện tượng hoạt hóa plasminogen thành plasmin. Plasmin xúc tác phản ứng cắt fibrin thành các sản phẩm bị phân hủy và do đó làm tan cục máu đông. Plasminogen Các chất hoạt hóa Plasmin Fibrin PDF (các sản phẩm bị phân hủy) Hình 1.
Sơ đồ tiêu sợi huyết. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Thương 1.3 Bệnh tắc nghẽn mạch máu Đông máu là một trong những cơ chế phòng vệ tự nhiên của cơ thể khi chấn thương xảy ra. Tuy nhiên, khi thành mạch bị xơ vữa, bị tổn thương làm xuất hiện huyết khối làm tắc nghẽn động mạch, tĩnh mạch gây nên bệnh tắc nghẽn mạch máu.