Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TRANH CỔ ĐỘNG VÀ CÔNG TÁC SƯU TẦM TRANH CỔ ĐỘNG TẠI BẢO TÀNG LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM 1. CÁC KHÁI NIỆM ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN 1. Khái niệm Tranh cổ động Trước khi đến với khái niệm tranh cổ động, chúng tôi đã tìm hiểu về từ cổ động thông qua việc tra cứu từ điển. Theo từ điển tiếng Việt giải nghĩa: Cổ động là dùng lời nói, sách báo, tranh ảnh tác động đến tư tưởng, tình cảm của số đông, nhằm lôi cuốn mọi người tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội nhất định.
8] Một cách giải thích khác của nhóm tác giả công trình Sưu tập tranh cổ động ở Bảo tàng Quân đội thì Cổ động được ghép bởi hai từ, trong đó từ “cổ” theo tiếng Hán là cái trống, mà trống là một trong những nhạc khí cổ xưa, được sử dụng rộng rãi trong các hoạt động tập thể, như khi xung trận, khi chống lũ, lụt cũng như trong các lễ hội… Đó là một phương tiện tác động tới tâm lý, tình cảm con người mạnh mẽ nhất đối với người phương Đông nói chung người Việt Nam nói riêng. 8] Căn cứ theo từ vựng, tranh và cổ động là hai từ có nghĩa độc lập được ghép với nhau. Từ điển Hán Việt giải nghĩa, tranh cổ động là từ ghép của hai từ là “tranh” có nghĩa là bức vẽ và “cổ động” có nghĩa là động viên, khích lệ bằng tiếng trống, vì “cổ” có nghĩa là cái trống. Như vậy tranh cổ động là một loại tranh nhằm mục đích chuyển tải thông tin trực quan một cách ngắn gọn, nhanh chóng, rõ ràng thông qua ngôn ngữ đồ họa.
Từ đó động viên, cổ vũ con người vươn lên; thu hút họ vào các hoạt động chính trị, xã hội cũng như các lĩnh vực khác của đời sống nhằm đạt mục đích đặt ra. 14] Theo từ điển bách khoa toàn thư trên đĩa CD- ROM ENCARTA của hãng Microsoft, tranh cổ động được thể hiện bằng cụm từ tiếng Anh Posters hoặc Poster Propaganda (Tranh tuyên truyền) và được dịch nghĩa như sau: “Tranh Poster- là 9 tranh quảng cáo hay thông báo được tạo ra hàng loạt, thông thường được in trên giấy khổ lớn để trưng bầy nơi công cộng. Poster thông thường gồm một hình vẽ hay minh họa màu có một nhãn hiệu hay một dòng chữ ngắn. Chúng dùng mục đích thương mại, quảng cáo cho các sản phẩm hoặc thông báo với công chúng về hoạt động giải trí, nhưng chúng vẫn còn được dùng như các phương tiện thông báo, giáo dục công cộng hoặc công cụ tuyên truyền, hoặc như một tác phẩm nghệ thuật thuần túy mà không có một thông điệp cụ thể nào cả.
Một quan niệm khác cho rằng: Quảng cáo có tên gốc la tinh là (Advertere) nghĩa là “hướng ý nghĩ về”. Họ cho rằng: Tranh cổ động quảng cáo là một phương tiện trao đổi thông tin hữu hiệu. Do tính chất thông báo nên đồ họa quảng cáo đã sử dụng các khả năng thông báo, thông tin nhanh, gây ấn tượng mạnh, nhanh chóng tác động đến thái độ của nhiều người. Những người không có chủ định, người người qua đường bất chợt đều phải dừng bước trước tín hiệu thông báo.
9] Một số ngôn ngữ khác trên thế giới cũng có từ riêng để nói về tranh cổ động. Trong tiếng Đức, tranh cổ động là Plakat, được hiểu như là một dạng của tranh đồ họa, với hình vẽ đập vào mắt, in trên khổ lớn có kèm theo dòng chữ ngắn, nhằm mục đích quảng cáo, cổ động hoặc thông tin hay học tập. Tranh cổ động trong tiếng Pháp gọi là Affiche. “Đó là các tấm biển quảng cáo cho một mặt hàng hay nội dung một vấn đề về chính trị xã hội, có khả năng mang tới cho mọi người những hình ảnh, những thông tin nhanh, chính xác gây ấn tượng nhất kể cả với những người không có chủ định tìm hiểu bằng ngôn ngữ đồ họa trên tất cả các phương tiện có thể được” [13, tr.
9] Các họa sĩ thuộc trường phái tượng trưng buổi giao thời thế kỷ 19, 20 như Korovin, Benua, Lansere thì cho rằng tranh cổ động “là phương tiện để truyền bá nghệ thuật khắp nơi nơi”. 14] Qua các giải nghĩa trên có thể thấy tranh cổ động dù ở ngôn ngữ nào cũng đều thống nhất ngữ nghĩa là sự cổ vũ cho một chủ đề nội dung nào đó và thu hút sự chú ý của nhiều người bằng thủ pháp nghệ thuật đặc biệt. 10 Tuy nhiên khi văn hóa Pháp tràn vào Việt Nam thời kỳ thuộc địa, từ áp phích (phiên âm từ affiche) đã xuất hiện. Kể từ đó theo thói quen, nhiều người đã kết hợp hai từ áp phích, cổ động thành một tên gọi chung là tranh áp phích cổ động.
Tranh cổ động là một sản phẩm mỹ thuật được làm ra để phục vụ cho một mục đích xã hội cụ thể. Đó là những tranh vẽ có nội dung gắn với các sự kiện xã hội trong một hoàn cảnh, một thời điểm nào đó. Những sự kiện chính trị hay lịch sử thường là khởi nguồn sáng tác cho tranh cổ động, nhưng nhìn chung, đó là những sự kiện lớn nằm trong mối quan tâm của nhiều người hoặc của toàn xã hội chứ không phải là vấn đề của riêng cá nhân. Tranh cổ động nếu xét về hình thức và kỹ thuật thể hiện thì không khác với tranh quảng cáo, nhưng về chủ đề nội dung có sự khác biệt.
Yêu cầu của tranh cổ động đặt ra có mục tiêu khác biệt hoàn toàn với tranh quảng cáo hàng hóa thông thường. Tranh cổ động không những cần phải chuyển tải thông tin, tác động tới tâm lý, tình cảm con người mà còn phải hướng tới ý thức của họ, tới nhân sinh quan của họ, không chỉ tác động tới một người, tới một vài người mà là hàng nghìn, hàng vạn người thậm chí cả một dân tộc. Chính vì thế nó được gọi là tranh cổ động. 7] Theo quyết định số 02/2007/QĐ-BVHTT ngày 06 tháng 2 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa- Thông tin “Về việc ban hành quy chế tổ chức thi sáng tác tranh cổ động và sử dụng tranh cổ động để tuyên truyền: “Tranh cổ động là tranh đồ họa, sử dụng màu sắc, đường nét và chữ nhằm định hướng nhận thức, suy nghĩ và hành động của mọi người đối với sự kiện, hoạt động xã hội xảy ra trong một thời điểm nhất định”.
[15,tr 14] Tuy nhiên, không thể coi bất cứ bức tranh thể loại đồ họa nào có khổ lớn cũng là tranh cổ động. Ví dụ những tấm pa nô ta vẫn thường gặp trên nẻo đường quốc lộ; những pa nô này tham ý, hình ảnh rườm rà, muốn hiểu thông tin người xem mất nhiều thời gian. Điều này trái với nguyên tắc chuyển tải thông tin một cách nhanh nhất của tranh. Họa sĩ Huy Toàn quan niệm: “Tranh cổ động là một loại hình nghệ thuật ứng dụng, tác dụng của nó là cổ động cho nhiều lĩnh vực: chính trị, văn hoá, xã hội, 11 quân sự, phần lớn là để quảng cáo cho những sản phẩm phục vụ đời sống dân sinh mang tính thời đại…”.
Đại tá, họa sĩ Lê Duy Ứng cho rằng: “Tranh cổ động là cổ vũ động viên, khích lệ con người ta vượt lên trong một phong trào, sự kiện nào đó”. Họa sĩ Bùi Anh Hùng, Uỷ viên BCH hội Mỹ thuật Hà Nội cho rằng: “Tranh cổ động là cổ vũ, biểu dương lực lượng, thúc đẩy, khích lệ tinh thần yêu nước, tinh thần đoàn kết gắn với từng khoảnh khắc, giai đoạn, sự kiện hay cả một tiến trình lịch sử”. Tóm lại, qua nghiên cứu, phân tích và tổng hợp các ý kiến, chúng tôi cho rằng: Tranh cổ động là một thể loại nghệ thuật đồ họa, gồm hai phần thống nhất với nhau: Phần hình và phần chữ có nội dung cô đọng, thông tin tập trung, gây ấn tượng nhanh, mạnh, tuyên truyền, cổ vũ quần chúng hưởng ứng và hành động theo. Khái niệm tình quân dân Trong lời nói hàng ngày chúng ta vẫn hay sử dụng cụm từ tình quân dân để nói về mối quan hệ khăng khít giữa lực lượng quân đội với nhân dân.
Cũng giống như vô vàn các mối quan hệ xã hội bình thường khác, mối quan hệ giữa quân và dân về cơ bản là mối quan hệ giữa người với người, nảy sinh trong các hoạt động xã hội, tạo nên tương tác xã hội, góp phần hình thành mạng lưới xã hội với những mối liên hệ với nhau. Thông thường các mối quan hệ xã hội nảy sinh trong các hoạt động xã hội khác nhau như hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng. để đáp ứng nhu cầu liên kết và xác lập mối liên hệ với các thành viên khác trong hệ thống xã hội, từ đó xã hội tồn tại và phát triển. Nếu như quan hệ chính trị xác lập mối liên hệ có liên quan đến quyền lực, quan hệ kinh tế xác lập liên hệ về lợi nhuận thì mối quan hệ giữa quân và dân thuộc lĩnh vực tư tưởng, thể hiện một nhu cầu liên kết tình cảm, xác lập sự đoàn kết tập thể tạo sức mạnh.
Trong bối cảnh đất nước có chiến tranh, mối quan hệ quân dân đã được bộc lộ và trở thành một mối quan hệ đặc biệt, tạo niềm tin và nền tảng sức mạnh quan trọng cho dù nó vô hình và không thể đong đếm được. 12 Trong đề tài này, tình quân dân trở thành đối tượng nghiên cứu, đó là tranh cổ động biểu đạt tình quân dân, (từ đây gọi tắt là tranh cổ động tình quân dân), một trong số các chủ đề chính của sáng tác tranh cổ động. Khái niệm sưu tập Trong Luật Di sản văn hóa năm 2001 sửa đổi, bổ sung năm 2009 có viết: “Sưu tập là một tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia hoặc di sản văn hóa phi vật thể, được thu thập, gìn giữ, sắp xếp có hệ thống, theo những dấu hiệu chung về hình thức, nội dung và chất liệu để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử tự nhiên và xã hội”. 10] Theo Từ điển tiếng Việt thì sưu tập mỹ thuật là: “Việc tìm kiếm và tập hợp vào một nơi các tác phẩm nghệ thuật tạo hình.
Có những sưu tập tư nhân sau khi người chủ qua đời đã hiến cho nhà nước lập thành bảo tàng, như bảo tàng Tơrêtiakôp (Tret jakov- Nga). Ở Việt Nam, nhiều người làm STMT” (sưu tập mỹ thuật- tác giả luận văn giải thích) [18, tr. 837] Bên cạnh hệ thống sưu tập chính thống của nhà nước, còn có các sưu tập tư nhân trong nước và nước ngoài.