Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng tư liệu của Bảo tàng trong dạy học Lịch sử ở trường trung học phổ thông Chương 2: Các biện pháp sử dụng tư liệu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam trong dạy học phần Lịch sử Việt Nam (Lớp 10, chương trình chuẩn) 9 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG BẢO TÀNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƢỜNG THPT 1. Quan niệm về sử dụng bảo tàng trong dạy học Lịch sử tại trường THPT Bảo tàng là “thứ học đường đặc biệt, là nơi giải trí tích cực, chơi mà học, học mà chơi…”. Được học tập tại bảo tàng, HS dễ dàng ghi nhớ được nội dung kiến thức cơ bản thông qua những tài liệu, hiện vật gốc, những sa bàn, tranh ảnh minh họa, sơ đồ… được trưng bày một cách có hệ thống. Tất cả những tài liệu, hiện vật đó được trưng bày ở bảo tàng góp phần quan trọng trong việc hình thành, bổ sung kiến thức lịch sử cho HS.
Bảo tàng “là một trung tâm thông tin, có lượng thông tin nguyên gốc, chính xác, phong phú, dễ tiếp cận và được nhận thức bằng phương tiện trực quan, sinh động” [7; tr. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: bảo tàng “cũng như một cuốn sử… cho ta thấy rõ ông cha ta đã khó nhọc như thế nào mới xây dựng nên đất nước tươi đẹp ngày nay” [18, tr. Bàn về quá trình nhận thức của con người, V.I Lênin đã viết: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan”. Quá trình nhận thức lịch sử của học sinh cũng không ngoài quy luật nhận thức chung đó.
Một đặc điểm điển hình của việc học tập lịch sử là học sinh không trực tiếp quan sát các sự kiện lịch sử như nó đã từng diễn ra, vì vậy, yếu tố trực quan có ý nghĩa rất quan trọng trong dạy học. Các nhà giáo dục học đã chứng minh rằng, càng có nhiều giác quan tham gia vào quá trình tri giác thì sự lĩnh hội tri thức ngày càng nhanh, càng bền vững và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hình thành biểu tượng, khái niệm, rút ra quy luật và bài học lịch sử. Khi được tri giác các tài liệu, hiện vật ở bảo tàng, nhất là các tài liệu, hiện vật gốc, HS dễ dàng có được biểu tượng cụ thể về những sự kiện lịch sử đã qua, HS được tiếp xúc với những “mảnh” 10 z lịch sử được để lại, có giá trị xác nhận tính hiện thực, tính chính xác của những sự kiện, những thời kì lịch sử mà các em đã được học. Điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc khắc sâu tri thức lịch sử, giáo dục niềm tin, giáo dục tư tưởng, tình cảm cho HS.
Đồng thời, dưới sự hướng dẫn của GV và dựa trên cơ sở quan sát tài liệu, hiện vật của bảo tàng, HS cũng được rèn luyện các kĩ năng thực hành bộ môn như: kĩ năng quan sát, miêu tả, giới thiệu nội dung tranh ảnh, bản đồ, hiện vật… một cách ngắn gọn, xúc tích, rõ ràng và từ đó biết rút ra kết luận về bản chất của các sự kiện, hiện tượng lịch sử. Nói tóm lại, việc sử dụng tài liệu, hiện vật ở bảo tàng trong dạy học Lịch sử ở trường THPT không chỉ cung cấp kiến thức, phát triển kĩ năng mà còn có ý nghĩa giáo dục thái độ cho HS. Dạy học Lịch sử ở các bảo tàng là rất cần thiết bởi các tài liệu, hiện vật ở bảo tàng không chỉ cung cấp một khối lượng kiến thức phong phú, sinh động, củng cố kiến thức đã học cho HS, mà còn cung cấp kiến thức mới, tài liệu tham khảo, đồ dùng trực quan cho GV. HS được học tập trong một không khí rất mới, rất khác với không khí trên lớp học vì ở đó HS được phần nào sống trong khung cảnh của thời kì lịch sử đang học.
Quá khứ lịch sử trở nên gần gũi với HS hơn. Tùy điều kiện cụ thể của mỗi trường, mỗi lớp mà có thể lựa chọn bài, nội dung dạy học tại bảo tàng. Ở nước ta có rất nhiều bảo tàng, bên cạnh các bảo tàng Quốc gia còn có những bảo tàng ở địa phương. Tính riêng Thủ Đô Hà Nội - nơi tập trung những bảo tàng lớn của cả nước đã có trên 120 bảo tàng.
Mỗi bảo tàng đều có nội dung trưng bày khác nhau nên đều có ưu thế riêng của mình trong việc phục vụ công tác dạy và học tập Lịch sử. Bảo tàng có nhiều loại: bảo tàng lịch sử nói chung, trong đó bao gồm Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Quân đội Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh.; các bảo tàng nghệ thuật như Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.; bảo tàng chuyên ngành như Bảo tàng Phụ nữ, Bảo tàng Phòng không - Không quân, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.; các bảo tàng lịch sử tự nhiên (động vật học, thực vật học, hải dương học); các bảo tàng lưu niệm (bảo tàng ở di tích số 5D Hàm Long, 48 Hàng Ngang – Hà Nội.); các bảo tàng địa phương. Tư liệu của các bảo tàng trên là 11 z những phương tiện trực quan – một nguồn kiến thức vô giá, phục vụ rất tốt việc dạy học một số bộ môn ở trường THPT, đặc biệt là môn học Lịch sử. Sử dụng bảo tàng trong dạy học Lịch sử được hiểu là việc mà GV các trường THPT phối hợp với Ban quản lý bảo tàng và ngược lại để sử dụng các tư liệu, hiện vật, không gian của bảo tàng trong việc tổ chức hoạt động ngoại khóa và dạy bài nội khóa nhằm liên hệ kiến thức lịch sử trên sách vở với thực tế lịch sử.
Có thể nói rằng dạy học Lịch sử mà không gắn với bảo tàng cũng giống như việc đi bơi mà không có hồ bơi, nấu ăn mà không có bếp vậy. Sử dụng bảo tàng trong dạy học Lịch sử sẽ giúp cho HS được trải nghiệm, cảm nhận được Lịch sử không phải là những gì đã diễn ra trong quá khứ, xa rời thực tại, cũng không phải là những điều đã được khám phá xong và các em chỉ còn việc học thuộc lòng. Ngược lại, lịch sử rất đỗi gần gũi và các tư liệu đang được trưng bày trong bảo tàng tuyệt đối không định mức được giá trị. Nó chỉ có giá trị khi HS phải tự tìm hiểu, tự khám phá và trải nghiệm với nó.
Như vậy, sử dụng bảo tàng trong dạy học Lịch sử ở trường THPT về bản chất là sử dụng tư liệu của bảo tàng. Trong đó, GV đóng vai trò tìm hiểu, lựa chọn các nguồn tư liệu của bảo tàng phù hợp với mục tiêu bài học Lịch sử, phù hợp với từng trường, từng lớp và từng đối tượng HS. Từ đó, GV thiết kế kế hoạch bài dạy với các phương pháp, hình thức tổ chức đa dạng và phù hợp nhằm hướng dẫn HS khám phá sự kiện, hiện tượng Lịch sử được phản ánh qua tư liệu, hiện vật trưng bày trong bảo tàng. Tư liệu lịch sử được chia thành bảy loại: tư liệu chữ viết, tư liệu vật chất, tư liệu truyền miệng dân gian, tư liệu ngôn ngữ, tư liệu dân tộc học, tư liệu phim ảnh, băng ghi hình và tư liệu băng ghi âm.
Theo phân loại như trên, tại bảo tàng có những nguồn tư liệu lịch sử như sau: Tư liệu chữ viết là những sử liệu cho ta những thông tin về các sự kiện đã xảy ra được ghi lại bằng kí tự trên các kênh thông tin khác nhau như: giấy, xương, đá, mai rùa, vỏ cây. Đây là nguồn tư liệu có khối lượng lớn và đặc biệt quan trọng, đôi khi chiếm địa vị chủ yếu trong các loại tư liệu. Các nhà nghiên cứu đã phân chia 12 z tư liệu chữ viết thành các loại khác nhau như theo đặc điểm, theo ngành, theo lĩnh vực. Tuy loại tư liệu này có thể dễ dàng thu thập dưới nhiều hình thức hơn các loại tư liệu khác, nhưng chúng ta cần nghiên cứu và xử lý trước khi đem vào sử dụng.
Vì lịch sử mang tính giai cấp nên lịch sử cũng mang tính chủ quan, chịu ảnh hưởng tư tưởng của các thời kì lịch sử. Khi tìm hiểu loại tư liệu này chúng ta cần phải đối chiếu với các loại tư liệu khác để có cái nhìn toàn diện, chân thực nhất về lịch sử. Ngoài ra, tư liệu chữ viết còn bao gồm cả những bảng số liệu thống kê từ các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, giáo dục. Thông qua những bảng số liệu đó, phần nào đó lịch sử được cụ thể hóa.
Tư liệu vật chất là sản phẩm của quá trình hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức của con người, đó là những dụng cụ lao động, đồ dùng sinh hoạt, vũ khí của người xưa, thành quách, cung điện. Ví dụ: công cụ sản xuất, vũ khí, đồ đựng. được trưng bày tại Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam; công cụ săn bắt, trang phục, nhà ở. của các dân tộc được trưng bày tại Bảo tàng Dân tộc học.
Tư liệu vật chất mang ý nghĩa cực kì quan trọng, nó phản ánh thời kì dài của lịch sử khi mà chưa xuất hiện chữ viết, đồng thời mang tính khách quan trung thực lớn. Khi đã có chữ viết, tư liệu vật chất bổ sung về mặt nhận thức làm cho nhận thức của chúng ta chính xác hơn các loại tư liệu chữ viết, bổ sung và kiểm tra các loại tư liệu chữ viết đã đúng chưa và đúng ở mức độ nào. Ngày nay, với sự hỗ trợ của khoa học kĩ thuật, số lượng tư liệu vật chất tăng lên, cực kì phong phú, đa dạng, chúng ta khai quật được nhiều hơn tư liệu vật chất của các thời kì lịch sử và giải mã được những bí ẩn của nhân loại thời kì trước kia. Tuy nhiên, đây là loại tư liệu “câm”, tự bản thân nó không nói lên được điều gì vì thế chỉ khi nào được các nhà khoa học nghiên cứu được thì chúng ta mới biết thông tin về tư liệu.
Loại tư liệu này thường được bảo quản trong các nhà kho, viện bảo tàng nên gây khó khăn cho việc tiếp xúc trực tiếp. Tư liệu hình ảnh gồm tranh, ảnh được chụp lại, vẽ lại tại thời điểm xảy ra sự kiện lịch sử. Ví dụ như các tác phẩm hội họa, tranh ảnh được trưng bày tại Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam; hình ảnh trưng bày trong không gian “Góc nhìn chéo” thể hiện sự giao lưu văn hóa Việt Nam - Pháp tại Bảo tàng Dân tộc học.