ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Lý do chọn dé tài. Trong xu thế hội nhập kinh tế hiện nay, sự phát triển ổn định xã hội là nhân tố không thể thiếu được ở bất kỳ nền kinh tế nào. Nước ta là một nước nông nghiệp với hơn 80% dân số sống bằng nghề nông nhưng đa số đại bộ phận đều đang thiếu vốn hoặc không có vốn để sản xuất. Vì vậy, hầu hết người dân đều có nhu cầu vay vốn để sản xuất kinh doanh nhằm đảm bảo cuộc sống của họ.
Chính nguyên nhân đó mà nhà nước và các cơ quan có liên quan cần có chính sách hợp lý, nhất là ngân hàng cần khẳng định vai trò của mình trong việc cấp phát vốn để giúp đỡ người dân sản xuất, làm cho đời sống vật chất của người dân được cải thiện hơn. Từ đó mà quan hệ giữa hoạt động tín dụng và nông nghiệp không những là yêu cầu khách quan mà còn là sự cần thiết để đảm bảo liên tục quá trình sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp, phát triển kinh tế xã hội đổi mới đất nước. Tuy nhiên, do đặc điểm kinh tế nông nghiệp trong từng vùng không giống nhau nên hoạt động tín dụng cũng mang tính đặc thù riêng. Tín dụng không chỉ là chức năng cơ bản của các ngân hàng thương mại, mà còn là chức năng của hầu hết các định chế tài chính.
Tín dụng là khoản mục sử dụng vốn lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại thu nhập lớn nhất của các ngân hàng. Vì vậy sự thành công hay thất bại của ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào hoạt động tín dụng. Do vậy cần phải tìm hiểu, phân tích kỹ nền kinh tế sản xuất của từng vùng để từ đó hoạt động tín dụng của ngân hàng đạt hiệu quả cao hơn. Đồng thời làm hạn chế những yếu kém rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân hàng.
Trước tình hình trên bằng những kiến thức đã được trang bị trong thời gian học tập tại trường, đồng thời được sự đồng ý của khoa kinh tế và sự giúp đỡ tận tình của ngân hàng NHNo & PTNT Thủ Đức, tôi tiến hành thực hiện để tài: “ Tìm hiểu tình hình huy động vốn và cho vay tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chỉ nhánh Quận Thủ Đức ”.2 Mục đích nghiên cứu. - Tìm hiểu tình hình hoạt động tín dụng tại NHNo & PTNT chi nhánh Thủ Đức - Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sử dụng vốn của ngân hàng - Đề xuất một số biện pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của đơn vị và mang lại lợi ích cho khách hàng.3 Phạm vi nghiên cứu.1 Phạm vi nghiên cứu. NHNo & PTNT chi nhánh quận Thủ Đức là một ngân hàng hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với công việc là nhận tiền gửi và sử dụng tiền này để cấp tín dung và cung ứng dịch vụ thanh toán. Trong điểu kiện giới hạn về thời gian và sự hiểu biết, để tài xin được phép giới hạn phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung nghiên cứu tình hình hoạt động tín dụng mà chủ yếu là cho vay hộ sản xuất nông nghiệp ở tại địa bàn quận Thủ Đức.2 Thời gian nghiên cứu.
Thới gian nghiên cứu đề tài từ năm 2002-2004. Thời gian thực hiện dé tài từ 7/3/2005 đến 30/6/2005.3 Không gian nghiên cứu. Số liệu thu thập chủ yếu từ các phòng ban của ngân hàng, bên cạnh đó tham khảo ý kiến của một số cán bộ tín dụng tại ngân hàng và kết hợp với điều tra thực tế một số hộ sản xuất tại địa bàn quận. CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm về tín dụng.
Tín dụng là một giao dịch về tài sản ( tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay ( ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay ( cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho vay khi đến hạn thanh toán.2 Bản chất và chức năng tín dụng.1 Bản chất của tín dụng. Bản chất của tín dụng được thể hiện trong quá trình hoạt động của tín dụng và mối quan hệ của nó với quá trình phát triển sản xuất xã hội. Mối quan hệ này được thực hiện thông qua ba giai đoạn: Giai đoạn phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay. Nội dung của giai đoạn này là vốn tién tệ hoặc vật tư hàng hoá được chuyển nhượng từ người cho vay đến người đi vay thông qua hợp đồng được ký kết theo nguyên tắc thỏa thuận của hai bên, dựa trên cung-cầu của vốn cho vay.
Giai đoạn sử dụng vốn vay trong quá trình sản xuất kinh doanh. Ở giai đoạn này, vốn vay có thể được sử dụng trực tiếp ( nếu vay bằng hàng hóa) hoặc sử dụng vào việc mua vật tư hàng hóa ( nếu vay bằng tiền) để thỏa mãn nhu cầu sản xuất, kinh doanh hay tiêu dùng của người đi vay. Giai đoạn hoàn trả vốn tín dụng là giai đoạn kết thúc một vòng tuần hoàn của vốn tín dụng, đồng thời cũng là giai đoạn hoàn thành một chu kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh để trở về hình thái tiền tệ vốn tín dụng ban đầu của nó mà được người đi vay hoàn trả cho người cho vay. Hơn nữa, sự hoàn trả của tín dụng là quá x trình trở về với tư cách là lượng giá trị vốn tín dụng được vận động.
Do đó, sự hoàn trả không chỉ luôn phải bảo tồn về mặt giá trị, mà còn có phần tăng thêm dưới hình thức lãi suất. Như vậy bản chất vận động của vốn tín dụng qua ba giai đoạn như đã để cập ở trên là sự hoàn trả cả vốn gốc và theo đó là khoản lãi suất với tư cách là giá cả của vốn cho vay. Khi nền kinh tế hàng hóa phát triển, hoạt động tín dụng cũng phát triển với nhiều hình thức phong phú và đa dạng. Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, tin dụng được hiểu là một hình thức quan hệ tiển tệ, nó là một trong những loại hình kinh doanh tién tệ dựa trên quan hệ cung-cầu về tiền tệ, với mục đích mang lại lợi nhuận cho cả hai phía là người cho vay và người đi vay.
Tóm lại, bản chất của tín dụng được thể hiện là hình thức vận động của vốn tién tệ trong xã hội theo nguyên tắc có hoàn trả nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống cho dân chúng.2 Chức năng tín dụng. + Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tién tệ theo nguyên tắc có hoàn trả. Thực hiện chức năng này, tín dụng thu hút đại bộ phận tiền tệ nhàn rỗi trong nên kinh tế và phân phối lại vốn đó dưới hình thức cho vay để bổ sung vốn cho xí nghiệp, cá nhân có nhu cầu về vốn nhằm phục vụ cho sản xuất kinh doanh và tín dụng. Trong phạm vi toàn bộ nên kinh tế, phân phối lại vốn tiền tệ dưới hình thức tín dụng được thực hiện bằng hai cách: phân phối trực tiếp và phân phối gián tiếp.
Phân phối trực tiếp: là việc phân phối vốn từ chủ thể có vốn tạm thời chưa sử dụng sang chủ thể trực tiếp sử dụng vốn đó cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Phân phối gián tiếp: là việc phân phối được thực hiện thông qua các tổ chức tài chính trung gian như: ngân hàng, hợp tác xã tín dụng, công ty tài chính. + Chức năng tiết kiệm tiền mặt: Thoạt tiên, tiền tệ lưu thông là hóa tệ, nhưng khi các quan hệ tín dụng phát triển đã làm xuất hiện việc lưu thông các dấu hiệu giá trị. Trong nên kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng ngày càng mở rộng và phát triển đa dạng, từ đó nó đã thúc đẩy việc mở rộng thanh toán không dùng tién mặt và thanh toán bù trừ giữa các đơn vị kinh tế.
Điều này sẽ làm giảm được khối lượng giấy bac trong lưu thông, làm giảm được chi phí lưu thông giấy bạc ngân hàng, đồng thời cho phép nhà nước điều tiết một cách linh hoạt khối lượng tién tệ nhằm đáp ứng kịp thời nhu cau tién tệ cho san xuất và lưu thông hang hóa phát triển. + Chức năng phản ảnh một cách tổng hợp và kiểm soát quá trình hoạt động của nền kinh tế. Trong việc thực hiện chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ nhằm phục vụ yêu cầu tái sẳn xuất, tín dụng có kha năng phan ánh một cách tổng hợp và nhạy bén tình hình hoạt động của nên kinh tế, do đó, tín dụng còn được coi là một trong những công cụ quan trọng của nhà nước để kiểm soát, thúc đẩy quá trình thực hiện các chiến lược hoạch định phát triển kinh tế.3 Các loại tín dụng ngân hàng. Phân loại cho vay là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định.
Việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học là tiền dé để thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng. Tùy theo căn cứ mà người ta có nhiều cách phân loại tín dụng: Dựa vào mục đích cho vay thường được chia ra làm các loại sau: Cho vay bất động sản. Cho vay công nghiệp và thương mại. Cho vay nông nghiệp.
Cho vay các định chế tài chính. Cho vay cá nhân. Dựa vào thời hạn cho vay được chia làm ba loại: Cho vay ngắn hạn: thời hạn cho vay đến 12 tháng. Cho vay trung hạn: thời hạn cho vay từ 12 đến 60 tháng.
Cho vay dài hạn: thời hạn cho vay trên 60 tháng. Dựa vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng, được chia làm hai loại: Cho vay không có đảm bảo: chỉ dựa vào uy tín của người vay để cấp tín dụng. Cho vay có đảm bảo trực tiếp: việc cấp tín dụng phải kèm theo các điều kiện như có thế chấp, cầm cố bằng tài sản của người vay hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba. Dựa vào phương pháp hoàn trả, chia lam hai loại: Cho vay có thời hạn.
Cho vay không thời hạn. Dựa vào xuất xứ tín dụng, chia làm hai loại: Cho vay trực tiếp. Cho vay gián tiếp. Dựa vào tính chất pháp lý của các doanh nghiệp tín dụng, chia làm hai loại: Tín dụng chính thức.
Tín dụng phi chính thức. Dựa vào mục đích sử dụng vốn vay, chia làm hai loại: Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa. Tín dụng tiêu dùng.