ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một trong 16 quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất thế giới (WCMC, 1992). Góp phần vào sự đa dạng này, tài nguyên bò sát, ếch nhái nƣớc ta đóng góp một phần rất lớn với 369 loài bò sát thuộc 24 họ, 3 bộ và 176 loài Ếch nhái thuộc 10 họ, 3 bộ (Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trƣờng, 2009). Không những vậy, tài nguyên sinh vật Việt Nam còn mang tính đặc hữu cao. Trong số các loài động vật có xƣơng sống ở cạn đã biết thì có 14 loài thú, 10 loài chim, 33 loài bò sát và 21 loài ếch nhái là đặc hữu (Đỗ Quang Huy, Nguyễn Hoàng Nghĩa, Đồng Thanh Hải và Nguyễn Đắc Mạnh, 2009).
Các loài bò sát, ếch nhái là thành phần quan trọng của hệ sinh thái tự nhiên. Chúng là một mắt xích trong mạng lƣới thức ăn, có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh cân bằng hệ sinh thái. Bên cạnh đó, bò sát và ếch nhái là nguồn thực phẩm cho con ngƣời, là thiên địch của các loài côn trùng gây hại, và có thể còn đƣợc sử dụng làm nguồn dƣợc liệu. Hiện nay do nhiều nguyên nhân khác nhau nhƣ quá trình khai thác sử dụng rừng không hợp lý, sức ép dân số, sự hạn chế trong công tác quản lý, nạn săn bắn vì mục đích thƣơng mại… đã làm nguồn tài nguyên rừng ở nƣớc ta bị suy giảm nghiêm trọng cả về diện tích, số lƣợng và chất lƣợng.
Nguồn tài nguyên bò sát, ếch nhái của Việt Nam cũng không nằm ngoài thực tế này. Sách đỏ Việt Nam 2007 (Bộ Khoa học và công nghệ, 2007) đã thống kê có 39 loài bò sát và 12 loài ếch nhái cần phải ƣu tiên bảo tồn. Nhằm giảm thiểu sự suy giảm của tài nguyên rừng và bảo vệ đƣợc các loài đang đứng trƣớc nguy cơ bị tuyệt chủng, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều biện pháp bảo tồn nguồn tài nguyên đa dạng sinh vật của đất nƣớc, chẳng hạn nhƣ xây dựng hệ thống bảo tồn nội vi, ngoại vi và các văn bản luật, dƣới luật nhằm ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên rừng bừa bãi. Trong công tác bảo tồn nội vi, nƣớc ta đã thiết lập một hệ thống gồm 164 khu rừng đặc dụng với diện tích 2.
Khu rừng Thác Tiên, Đèo Gió thuộc địa phận xã Nấm Dẩn, Nà Chỉ, Quảng Nguyên, huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang. Đây là khu rừng nguyên sinh có tổng diện tích tự nhiên 3.947 ha, là nơi có hệ động thực vật phong phú, trong đó có nhiều cây gỗ và nhiều loại động vật quý hiếm, nổi bật nhƣ các loài Sến mật (Madhuca pasquieri), Rắn hổ mang chúa (Ophiophagus hannah). Không những vậy, Khu rừng Thác Tiên, Đèo Gió có địa hình địa mạo phức tạp đã tạo cho khu vực có nhiều cảnh quan hùng vĩ, nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều hang động và thác nƣớc đẹp. Chính nhờ những vẻ đẹp này, ngày 16/11/2009 Thác Tiên, Đèo Gió đã đƣợc Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du Lịch xếp hạng là danh lam thắng cảnh cấp quốc gia.
Tuy nhiên, cho tới nay, các công trình nghiên cứu về bò sát, ếch nhái ở đây còn rất hạn chế, các thông tin về tình trạng, phân bố, đặc biệt là các loài quý hiếm còn chƣa đầy đủ. Mặt khác, những hoạt động của ngƣời dân địa phƣơng nhƣ: Phá rừng làm nƣơng rẫy, khai thác gỗ, săn bắt động vật hoang dã… đã và đang làm cho tài nguyên động, thực vật nói chung và tài nguyên bò sát, ếch nhái nói riêng bị suy giảm về số lƣợng và mất dần sinh cảnh sống. Do vậy việc nghiên cứu khu hệ bò sát và ếch nhái tại khu vực là một trong những yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa thực tiễn cao về mặt khoa học và bảo tồn. Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tính đa dạng về thành phần loài Bò sát, Ếch nhái tại Khu rừng Thác Tiên, Đèo Gió, huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang”.
Kết quả của đề tài sẽ góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho chiến lƣợc bảo tồn nguồn tài nguyên đa dạng sinh học ở khu vực và giữ gìn vẻ đẹp vốn có ở Khu rừng Thác Tiên, Đèo Gió. Đây cũng là cơ sở để hình thành nên Khu Bảo tồn thiên nhiên Thác Tiên Đèo Gió. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Hệ thống phân loại bò sát, ếch nhái ở Việt Nam Nghiên cứu khu hệ bò sát, ếch nhái ở Việt Nam đã đƣợc tiến hành từ cuối thế kỷ XIX ở nhiều khu vực trên toàn lãnh thổ.
Các quan điểm phân loại dựa trên các đặc điểm hình thái bên ngoài, về đầu, mõm, chân, da, đuôi, màu sắc, cách trang trí, hình dạng các tấm sừng ở mai và yếm, môi trƣờng sống… nhƣ sống ở dƣới nƣớc thƣờng có đuôi hoặc chân có màng bơi (họ nhà Cóc), những loài sống chui luồn thƣờng không có chân (họ Ếch Giun), một số loài sống ở đất nhƣng không chui luồn thƣờng chân dài (họ Ếch nhái, họ Cóc), các loài sống ở cây thƣờng có ngón chân rộng thành đĩa bám (họ Ếch Cây)… Theo các quan điểm này, bò sát đƣợc chia thành 3 dạng dạng Thằn lằn và Cá sấu, dạng Rắn, dạng Rùa; ếch nhái đƣợc chia thành 3 dạng chính: ếch nhái có đuôi, ếch nhái không đuôi, ếch nhái không chân (Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 1998). Về quan điểm phân loại bò sát, ếch nhái thì cho đến nay chúng ta có nhiều quan điểm phân loại khác nhau nhƣ quan điểm phân loại của Đào Văn Tiến (1978, 1979, 1981, 1982) hay quan điểm phân loại của Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trƣờng (1996, 2005, 2009). Khóa định loại Rùa và Cá sấu Việt Nam của Đào Văn Tiến (1978) đã sử dụng các đặc điểm dễ nhận biết về hình thái nhƣ màu sắc, cách trang trí, hình dạng các tấm sừng ở mai và yếm (đối với rùa) để phân loại và sắp xếp chúng theo các đơn vị phân loại khác nhau. Theo đó, tác giả đã đƣa ra khóa định loại cho 32 loài Rùa và 2 loài Cá Sấu.
3 Khóa định loại về Thằn lằn Việt Nam của Đào Văn Tiến (1979) cũng sử dụng các đặc điểm về hình dạng bên ngoài để phân loại chúng. Trong đó các đặc điểm đƣợc chú ý phân loại nhƣ hình dạng và kích thƣớc của đầu, các nốt sần, vẩy. Hình dạng của thân, lƣng và bụng phủ vẩy, nốt sần hoặc gai, số hàng vẩy trên lƣng. Đối với các chi thì có các chỉ tiêu nhƣ chiều dài chi, số ngón.
Có màng bơi hay không, các ngón có giác bám hay không… theo đó tác giả đã đƣa ra khóa định loại cho 77 loài thằn lằn. Trong khóa định loại Rắn Việt Nam tập 1 của tác giả Đào Văn Tiến (1981) các chỉ tiêu đƣợc dùng để định loại là hình thái và kích thƣớc thân, hình dạng của đầu, số lƣợng hàng vẩy thân và vẩy lƣng… trong khóa định loại này, tác giả đã đƣa ra khóa định loại cho 47 loài. Khóa định loại Rắn Việt Nam tập 2 của Đào Văn Tiến (1982), với những tiêu chí giống nhƣ khóa định loại tập 1, tác giả đã định loại cho 112 loài thuộc họ rắn nƣớc. Trong các tài liệu phân loại thì Khóa định loại bò sát, ếch nhái của Đào Văn Tiến (1978, 1979, 1981, 1982) là tài liệu đƣợc nghiên cứu đầy đủ và chính xác nhất, nên tài liệu này đang đƣợc sử dụng rộng rãi và phổ biến trong việc định loại và tra cứu các loài bò sát, ếch nhái hiện nay.
Theo quan điểm phân loại của Nguyễn Văn Sáng, Nguyễn Quảng Trƣờng và Hồ Thu Cúc (1996, 2005, 2009) thì số lƣợng bò sát, ếch nhái nƣớc ta không ngừng tăng lên theo thời gian (bảng 1. Đây là kết quả nghiên cứu bò sát, ếch nhái ở nhiều vùng miền khác nhau, nhất là ở các vùng núi, vùng sâu, vùng xa. Điều này đã chứng tỏ sự quan tâm, đầu tƣ nghiên cứu về sự đa dạng và phong phú về thành phần loài, cũng nhƣ vấn đề bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái đang ngày càng đƣợc tăng lên.1: Tổng quan về phân loại học bò sát, ếch nhái ở Việt Nam theo thời gian Năm Bò sát Ếch nhái Nguồn thông tin Bộ Họ Loài Bộ Họ Loài Nguyễn Văn Sáng, 1996 3 23 258 3 9 82 Hồ Thu Cúc (1996) Nguyễn Văn Sáng, 2005 3 23 296 3 9 162 Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trƣờng (2005) Nguyễn Văn Sáng, 2009 3 24 396 3 10 176 Hồ Thu Cúc Và Nguyễn Quảng Trƣờng (2009) Những phát hiện mới về bò sát, ếch nhái ở Việt Nam thời gian gần đây: Năm 2009 đã có 4 loài bò sát, ếch nhái mới ghi nhận đƣợc phát hiện tại Việt Nam đó là Cóc mày Ap-li-bai (Leptolalax applebyi) phát hiện ở núi Ngọc Linh (Quảng Nam), Ếch bám đá hoa (Odorrana geminata) phát hiện ở núi Tây Côn Lĩnh (Hà Giang) và Nguyên Bình (Cao Bằng), Ếch cây sần đỏ (Theloderma lateriticum) phát hiện ở vùng núi Hoàng Liên (Lào Cai). Cóc Mày Vân Nam (Leptobrachium promustache), một loài trƣớc đây chỉ biết phân bố ở Trung Quốc, cũng lần đầu ghi nhận ở vùng núi cao thuộc tỉnh Lào Cai (http://www.
5 Riêng năm 2013 đƣợc coi là năm khá thành công đối với các nhà nghiên cứu động vật học của Việt Nam và Quốc tế với 15 loài bò sát và ếch nhái mới cho khoa học đƣợc phát hiện ở nƣớc ta (bảng 1.