ĐẶT VẤN ĐỀ Đa dạng sinh học là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trƣờng. Nấm lớn hay nấm thể quả thƣờng để chỉ những loại nấm thuộc ngành Basdiomycota và Agaricomycetes. Theo quan điểm năm giới (Whittaker), cùng với động vật, thực vật, sinh vật nhân nguyên thuỷ (vi khuẩn, tảo lam.), nấm tạo thành một giới riêng biệt trên hành tinh chúng ta và giới nấm ngày càng có ý nghĩa to lớn trong nền kinh tế quốc dân, trong khoa học cũng nhƣ trong vòng tuần hoàn vật chất. Hiện nay, theo thống kê của GS.
Trịnh Tam Kiệt có khoảng 14000 đến 22000 loài nấm lớn, trong đó có khảng 50% là nấm ăn và có khoảng 7000 loài có khả năng làm thuốc chữa bệnh, 2000 loài nấm có thể nuôi trồng làm thực phẩm cho con ngƣời. Nhƣng tồn tại trong thực tế còn rất nhiều loài nấm chƣa đƣợc biết đến, chƣa đƣợc định loài và nêu tên trong danh lục. Nấm nói chung và nấm ăn nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống con ngƣời, chúng là nguồn thực phẩm giàu chất dinh dƣỡng (Termitomyces albuminosus, Macrocybe gegantea), là nguồn thức ăn quý đƣợc nhân dân ƣa chuộng, chứa nhiều protein, các chất khoáng và vitamin (A, B, C, D, E. Nhiều loài nấm đƣợc ứng dụng trong công nghiệp dƣợc phẩm, là nguồn nguyên liệu để điều chế các hoạt chất điều trị bệnh nhƣ: Laricifomes officinalis là nguyên liệu để chiết aragicin dùng trong chữa bệnh lao hoặc dùng làm thuốc nhuận tràng hay chất thay thế cho quinine.
Các chế phẩm từ nấm Linh chi (Ganoderma) đƣợc dùng để hỗ trợ điều trị nhiều bệnh nhƣ bệnh gan, tiết niệu, tim mạch, ung thƣ, AIDS. Trong quả thể của Ganoderma lucidum có các hoạt chất khác nhau có hoạt tính kháng virus. Chúng có tác dụng kìm hãm sự sinh trƣởng và phát triển của virus HIV. Các hoạt chất từ Ganoderma applanatum có hiệu lực chống khối u cao, chúng đƣợc sử dụng trong điều trị ung thƣ: ung thƣ phổi, ung thƣ vú, ung thƣ dạ dày.
Các dẫn xuất 1 adenosine có trong Ganoderma capense và G. amboinense có tác dụng giảm đau, giãn cơ, ức chế kết dính tiền tiểu cầu. Nhiều hoạt chất từ Linh chi có khả năng đào thải phóng xạ, hạn chế và loại trừ những tổn thƣơng do phóng xạ ở mô và tế bào. Nâng cao tính đa dạng sinh học hiện nay là điều rất quan trọng, giúp cân bằng sinh thái, bảo tồn tài nguyên rừng nhƣng diện tích rừng ngày càng suy giảm do sự gia tăng dân số, các hoạt động công – nông nghiệp phát triển đã là những yếu tố chính ảnh hƣởng lớn tới sự đa dạng loài.
Vì vậy, việc bảo vệ các loài nấm là một trong những yếu tố quan trọng bảo vệ sự đa dạng sinh học. Vƣờn quốc gia Tam Đảo với diện tích hơn 320.000ha có sự đa dạng lớn về các loài nấm, tuy nhiên thông tin về các loài nấm lớn còn rất hạn chế, vì vậy tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tính đa dạng các loài nấm lớn tại xã Đại Đình - huyện Tam Đảo – tỉnh Vĩnh Phúc”, nhằm bổ sung thêm các đặc điểm về hình thái, phân loại và làm cơ sở cho công tác bảo tồn các loài nấm lớn nơi đây. 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Trên thế giới Giữa sinh vật, con ngƣời và môi trƣờng có mối quan hệ chặt chẽ mà nếu ta biết vận dụng chúng theo quy luật phát triển bền vững và cân bằng sinh thái thì mới có khả năng duy trì và phát triển hiệu quả mối quan hệ này với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đi đôi với môi trƣờng. Từ xa xƣa, con ngƣời đã dựa vào tính đa dạng sinh học để sinh sống.
Nhƣng cùng với tiến trình phát triển văn minh của xã hội, con ngƣời đã tác động tiêu cực vào môi trƣờng sinh thái, ảnh hƣởng đến các loài sinh vật, thậm chí một số loài có thể bị hủy diệt. Theo dự đoán của các nhà khoa học trong vòng 20-30 năm nữa một phần tƣ số loài có nguy cơ bị tuyệt chủng. Nghĩa là khoảng 376.000 loài sinh vật đang có nguy cơ bị tuyệt chủng. Các nhà nấm học đã trải qua 200 năm nghiên cứu mới biết đƣợc 70.000 loài chƣa hề biết.
Nhiều vùng các nhà nấm học chƣa hề đặt chân tới. Con ngƣời đã biết cách sử dụng nấm nhằm đáp ứng các nhu cầu của mình từ rất lâu đời. Chúng ta đã có 6000 năm sử dụng nấm nhƣng về phân loại thì chỉ đƣợc hình thành từ thập kỉ XVII. Năm 1729, Michel lần đầu tiên quan sát nấm bằng kính hiển vi và phát biểu trên tạp chí “Các chi thực vật”.
Năm 1772, trong cuốn “Hệ thống tự nhiên” Lineaus [12] đƣa ra 10 chi nấm mọc trên đất. Nhiều nhà khoa học nổi tiếng thời kỳ sau là Peron, Fries, Ị Sweinitz, Corda, Berkley. Khoa học bệnh cây gắn liền với nấm học từ năm 1851. Ngƣời sáng lập là A.
Sau đó, với sự phát triển đột phá của khoa học, các nhà khoa học đã phát hiện ra nhiều loài nấm mới và nêu tên chúng trong danh lục các loài nấm. Những căn cứ để phân loại nấm cũng nhiều thêm nhƣ căn cứ vào hình thái, căn cứ vào phƣơng thức dị dƣỡng của nấm, chu trình phát triển của tế bào nấm. Hệ thống phân loại nấm Lỗ (Aphyllophonales) ngày nay, thƣờng tuân theo hệ thống phân loại của Whitaker & Marguiis (1978) [13]. 3 Căn cứ vào hình thái, thể quả và các mối quan hệ thân thuộc của chúng, năm 1881 nhà khoa học Phần Lan Karsten đã đề cập đến việc phân loại nấm và đƣợc đông đảo nhà khoa học nấm trên thế giới công nhận nhƣ: Cuningham G.
Năm 1971, Aisworth [11] đã đƣa ra hệ thống phân loại nấm một cách hoàn chỉnh. Trong hệ thống phân loại này ông đã dựa vào đặc điểm hình thái của thể quả, đặc điểm giải phẫu và phƣơng thức dinh dƣỡng đã chia giới nấm (Mycota) thành 2 ngành: Ngành nấm Nhầy (Myxomycota) và ngành nấm Thật (Eumycota). Từ hai ngành trên ông lại chia thành các lớp, bộ, họ, giống và loài. Nhƣ vậy trong một taxon phân loại thì đơn vị nhỏ nhất là loài.
Năm 1993 nhà nấm học Phần Lan Donk đã hoàn thiện cho hệ thống phân loại của Karsten [14]. Quan điểm phân loại này đƣợc rất nhiều nhà khoa học trên thế giới chấp nhận nhƣ: Mayer. Hiệp hội nấm quốc tế đã đƣợc thành lập năm 1971, lần triệu tập thứ 3 ở Tokyo - Nhật Bản đã nêu ra hệ thống phân loại, chia giới sinh vật ra thành 6 giới. Nấm đƣợc chia vào giới riêng (dinh dƣỡng hút) khác với giới thực vật (quang hợp) và động vật (dinh dƣỡng nuốt).
Trong sinh vật đa bào, sự phân loại có rất nhiều quan điểm và cách sắp xếp khác nhau. Cho đến nay, hệ thống phân loại của Ainsworth [11] đã và đang đƣợc các nhà nấm học trên thế giới sử dụng. Ở Việt Nam Cuối thế kỉ XIX, Palouillard. Nhà nấm học Pháp đã tiến hành điều tra và phân loại khu hệ nấm lớn ở Việt Nam, đã đƣa ra danh mục 200 loài nấm.
Ông đã mô tả đặc điểm hình thái, vị trí phân loại và phân bố của các loài nấm trong sinh giới. Từ trƣớc tới nay, ở Việt Nam ngƣời có đóng góp không hề nhỏ về nghiên cứu các loài nấm lớn là tác giả Trịnh Tam Kiệt, công trình nghiên cứu phải kể đến là “Khu hệ nấm lớn ở miền Bắc Việt Nam” của ông (1981). Đi sâu 4 vào bản chất sinh học, sinh lý của nấm là công trình “Một số vấn đề nấm học” của Bùi Xuân Đồng (1977), “Khoa học bệnh cây” của Đƣờng Hồng Dật (1979), “Đặc điểm sinh học của một số loại nấm phá hại gỗ” của Trần Văn Mão (1984), “Nấm lớn Cúc Phương” của Trần Văn Mão và cộng sự (2004). Các tác giả đi sâu vào nghiên cứu thành phần loài và một số đặc điếm sinh vật học, sinh thái học của nấm mục gỗ.
Gần đây (2005), nhóm nghiên cứu của Lê Thị Mai Hƣơng và cộng sự đã nghiên cứu các hoạt chất từ một số loài nấm lớn, đã tách tinh sạch và đặc tính chất của lacease từ Agarius blazei đƣợc nhân nuôi trên môi trƣờng MEA. Trần Đình Thắng, Nguyền Hoa Du, Lê Văn Hiệp và cộng sự (2012) đã tiến hành khảo sát thực địa một số địa điểm đa dạng sinh học vùng Bắc Trung Bộ và đã thu đƣợc hơn 30 loài nấm thuộc họ Coriolaceae, Ganodermataceae và Lentinaceae. Trên cơ sở phân tích các chất có hoạt tính sinh học cao của một số loài thuộc họ Coriolaceae, Ganodermataceae và Lentinaceae, đã nghiên cứu xác định quy trình công nghệ chiết suất một số chất có tác dụng làm dƣợc liệu. Năm 1998, Ngô Anh và Lê Thức báo cáo “Dẫn liệu bƣớc đầu về họ Hymenochaetaceae Donk ở Thừa Thiên Huế” [8] với 39 loài, trong đó 10 loài mới ghi nhận trong khu hệ nấm Việt Nam.
Năm 2000, tại Hội nghị Sinh học Quốc Gia, những vấn đề cơ bản trong nghiên cứu sinh học, Trịnh Tam Kiệt, Ngô Anh, U. Dorfelt đã công bố “Những dẫn liệu bổ sung về thành phần loài và hóa các hợp chất tự nhiên của khu hệ nấm Việt Nam” [9], trong đó các tác giả đã công bố 65 loài mới của khu hệ nấm Việt Nam và thông báo về các hợp chất đƣợc nghiên cứu tự nhiên đƣợc nghiên cứu ở 25 loài nấm ở Việt Nam. Năm 2003, Ngô Anh nghiên cứu thành phần loài nấm ở Thừa Thiên Huế đã xác định đƣợc 346 loài thuộc 134 chi nằm trong 3 ngành Myxomycota, Ascomycota, Basidiomycota. Nghiên cứu của tôi là công trình nghiên cứu đầu tiên về nấm lớn ở xã Đại Đình – huyện Tam Đảo – tỉnh Vĩnh Phúc.
5 CHƢƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN – DÂN SINH KINH TẾ XÃ HỘI CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2. Điều kiện tự nhiên 2.Vị tri địa lý Xã Đại Đình là một xã miền núi, trung tâm xã cách huyện Tam Đảo khoảng 10 km về phía Tây Nam. Xã có các ranh giới hành chính nhƣ : - Phía Đông Bắc giáp với tỉnh Thái Nguyên theo dãy núi Tam Đảo. - Phía Nam giáp với xã Hoàng Hoa.
- Phía Đồng và Đông Nam giáp xã Tam Quan. - Phía Tây giáp xã Đồng Tĩnh, Bồ Lý, Đạo Trù.Địa hình địa thế - Là xã miền núi có dãy núi Tam Đảo chạy qua làm ranh giới với tỉnh Thái Nguyên. Ở đây đỉnh núi cao nhất có độ cao là 1385m (đỉnh Rùng Rình). Địa hình toàn xã có hƣớng dốc nghiêng từ Đông Bắc xuống Đông Nam.