CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1. TỔNG QUAN VỀ KHOAI LANG 1. Nguồn gốc của khoai lang Khoai lang là một cây lương thực lâu đời, theo Engel (1970) những mẫu khoai lang khô thu được tại hang động Chilca Canyon (Peru) sau khi phân tích phóng xạ cho thấy có độ tuổi từ 8000 đến 10. Như vậy, theo các quá trình nghiên cứu về nguồn gốc thì khoai lang được biết sớm nhất ở Châu Mỹ.
Về sau được trồng rộng rãi ở các đảo Thái Bình Dương, một số quốc gia Châu Á cùng Châu Phi, ở Châu Âu cũng được trồng nhưng không phổ biến, chủ yếu là ở Bồ Đào Nha. Châu Mỹ tuy được xem là quê hương của khoai lang nhưng hiện nay sản lượng khoai lang ở Châu Mỹ rất thấp (không quá 3%). Hiện nay, khoai lang được trồng phổ biến nhất là ở các quốc gia Châu Á như Trung Quốc, Việt Nam, Ấn Độ… 1.2 Thành phần dinh dưỡng Trong khoai lang tươi có đến 77% là nước, 20.6% protein, 3% chất xơ và hầu như không có chất béo. Dưới đây là bảng thông tin chi tiết về các thành phần dinh dưỡng có trong khoai lang Bảng 1.1: Thông tin dinh dưỡng trên có trong 100g khoai lang (Theo Food Data Central) Thông tin dinh dưỡng cơ Vitamin Khoáng chất bản trên 100g Loại Hàm Nhu cầu Loại Hàm Nhu cầu lượng hàng lượng hàng ngày (mg) ngày (%) (%) Calo 86 A 709ug 79 Canxi 30 3 Nước 77% C 2.6g D 0ug - Magie 25 6 Đường 4.8ug 2 Kali 337 7 Chất xơ 3g B1 0.08mg 7 Natri 55 4 Chất béo 0.6x10 1 Omega-3 0g B12 0ug - Omega-6 0.01g Folate 11ug 3 Transfat - Choline 12.3mg 2 11 PHÙNG THỊ THANH TRÚC – LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ 1.
Carbohydrate Đường Trung bình khoai lang luộc, không vỏ chứa 27g carbohydrate. Trong đó chủ yếu là tinh bột (dạng carbonhydrate phức hợp), chiểm 53% hàm lượng carbonhydrate. Còn lại là các loại đường đơn như glucose , fructose , sucrose, maltose chiếm 32% [2]. Tinh bột Tinh bột là thành phần quan trọng của gluxit, chiếm 60-70% chất khô ([3]).
Giống là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến hàm lượng tinh bột trong củ khoai lang. Kết quả nghiên cứu cho thấy 18 giống khoai lang trồng ở Brazil có hàm lượng tinh bột biến đổi từ 42,6-78,7% chất khô [4]. Các giống trồng ở Philipine và Mỹ biến động từ 33,2-72,9% chất khô (C. Ở Ấn Độ, hàm lượng tinh bột dao động từ 11-22,5% chất tươi (31 giống), ở Đài Loan 7-22,2% chất tươi (272 giống) (Manh N.
Theo trung tâm nghiên cứu khoai lang, Từ Châu (1994) phân tích 790 mẫu xuất xứ, hàm lượng tinh bột thô 37,6-77,8%; Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau Châu Á (1992) phân tích 1600 mẫu xuất xứ, tỉ lệ chất khô khoai lang đạt 12,74-41,2%, hàm lượng tinh bột của khoai khô đạt 44,59-78,02%; Bradbury và Halloway (1988) phân tích 164 giống khoai lang của 5 nước Châu Á-Thái Bình Dương, hàm lượng tinh bột khoai lang tươi 5,3-28,4% [7]. Ngoài giống, còn một số yếu tố khác ảnh hưởng đến hàm lượng tinh bột như thời vụ, địa điểm trồng, phân bón, thời gian thu hoạch, thời gian bảo quản… Khi khoai chín thì trọng lượng tinh bột và các hạt tinh bột tăng lên. Tinh bột khoai lang chứa khoảng 13-23%amylose và 77-87% amylopectine. Dựa vào những đặc tính trong quá trình tiêu hóa mà người ta chia tinh bột thành 3 loại khác nhau [8].
Dưới đây là tỉ lệ tinh bột trong khoai lang: - Tinh bột tiêu hóa nhanh (chiếm 80%) nhanh chóng bị phân nhỏ và hấp thu, làm tăng chỉ số đường huyết. - Tinh bột tiêu hóa chậm ( chiếm 9%) bị phân nhỏ chậm hơn và khiến lượng đường trong máu tăng nhẹ [9]. - Tinh bột kháng (chiếm 12%) khó được tiêu hóa và có vai trò như một chất xơ, là nguồn thức ăn của các vi khuẩn thân thiện trong đường ruột. Lượng tinh bột kháng có thể tăng nhẹ trong khoai lang chín để nguội [10][11].
Xơ tiêu hóa Khoai lang chín tương đối giàu chất xơ. Trung bình một củ khoai lang chứa 3.8g chất xơ, bao gồm cả chất xơ hòa tan (15-23%) ở dạng pectin , và chất xơ không hòa tan (77-85%) ở dạng cellulose, hemicellulose và lignin (Ishida et al. 2000, Science 2010, Bovell-Benjamin 2007). Các chất xơ hòa tan, như pectin, có thể làm tăng cảm 12 PHÙNG THỊ THANH TRÚC – LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ giác no, giảm lượng hấp thu thức ăn mà cơ thể hấp thụ vào, hạn chế sự gia tăng đường trong máu bằng cách làm chậm quá trình tiêu hóa đường và tinh bột (Slavin 2013) [16].
Các chất xơ không hòa tan cũng mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe, chẳng hạn như giảm nguy cơ mắc bệnh tiều đường [17], Schulze, Schulz, and Heidemann 2015, Munter et al. 2007) và cải thiện sức khỏe đường ruột [15], Implications and Fiber 2008). Protein Trung bình một củ khoai lang chỉ chứa 2g protein. Trong khoai lang có một loại protein đặc biệt có tên là sporamin, chiếm đến hơn 80% tổng hàm lượng protein [14].
Các sporamin được sản sinh ra để cải thiện tình trạng hư hại ở khoai lang. Nghiên cứu gần đây còn chỉ ra rằng các protein này có đặc tính chống oxy hóa [21]. Mặc dù chứa hàm lượng protein tương đối thấp nhưng với những nước đang phát triển, khoai lang vẫn là nguồn bổ sung protein quan trọng [14]. Các vitamin và khoáng chất Khoai lang rất giàu vitamin và khoáng chất, đặc biệt là beta-carotene, vitamin C, kali.
Dưới đây là những vitamin và khoáng chất chiếm hàm lượng cao nhất trong khoai lang. Vitamin A: khoai lang rất giàu beta-carotene, chất này sau đó được chuyển hóa thành vitamin A trong cơ thể. Chỉ cần bổ sung 100g khoai lang mỗi ngày là có thể đạt chỉ tiêu nhu cầu vitamin A được khuyến nghị hàng ngày Vitamin C: là một chất chống oxy hóa, có thể trị chứng cảm lạnh thông thường và giúp cải thiện sức khỏe làn da [23]. Kali: là khoáng chất quan trọng trong việc kiểm soát huyết áp và giảm nguy cơ mắc bệnh tim [23].
Mangan: một khoáng chất vi lượng quan trọng cho quá trình trao đổi chất và sự tăng trưởng, phát triển của cơ thể. Vitamin B6: đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi thức ăn thành năng lượng. Vitamin B5: còn gọi là axit pantothenic, có trong hầu hết các loại thực phẩm. Vitamin E: là chất chống oxy hóa mạnh có khả năng hòa tan chất béo, giúp ngăn ngừa những thiệt hại do quá trình oxy hóa gây ra cho cơ thể [24].
13 PHÙNG THỊ THANH TRÚC – LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ 1. Enzyme Khoai lang chứa nhiều enzyme xúc tác cho quá trình cắt mạch hay tổng hợp riêng lẻ trong tế bào củ. Trong đó, enzyme gây ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng củ khoai lang trong quá trình bảo quản là enzyme amylase. Ngoài enzyme amylase còn có enzyme polyphenol oxyclase cũng gây ảnh hưởng đến chất lượng cảm quan, màu sắc và các sản phẩm từ củ khoai lang.
Các hợp chất thực vật khác Giống như các loại thực phẩm có nguồn gốc thực vật khác, khoai lang cũng chứa một số hợp chất thực vật có ảnh hưởng đến sức khỏe. Tác dụng chống oxy hóa của khoai lang gia tăng theo màu sắc của ruột khoai, và phát huy hiệu quả nhất ở giống khoai lang màu tím, màu da cam và màu đỏ. Beta-carotene: là chất chống oxy hóa carotenoid được chuyển hóa thành vitamin A trong cơ thể. Có thể hấp thụ chất này tốt hơn nếu kết hợp bổ sung chất béo vào bữa ăn.
Axit chlorogenic: là chất chống oxy hóa polyphenol dồi dào nhất trong khoai lang. Anthocyanin: hợp chất này thường có nhiều trong khoai lang tím và đặc tính chống oxy hóa mạnh mẽ. Coumarine: khoai lang chứa một lượng nhỏ esculetin, scopoletin và umbelliferon, có thể ngăn ngừa tình trạng đông máu và giúp ức chế sự tái tạo virus HIV trong các nghiên cứu ở tế bào và động vật [25]. Tình hình sản xuất và tiêu thụ khoai lang Khoai lang là một trong 5 cây có củ quan trọng trên thế giới: sắn, khoai lang, khoai mỡ, khoai sọ, khoai tây.
Nếu không tính khoai tây (cây có củ vùng ôn đới) thì khoai lang là cây có củ đứng sau sắn ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Theo số liệu thống kê của FAO cho thấy: hiện nay trên thế giới có tổng số 113 nước trồng khoai lang. Trong đó: Châu Phi 40 nước, Châu Mỹ 35 nước, Châu Á 23 nước, Châu Âu 4 nước, Châu Đại Dương 11 nước.2: Sản lượng khoai lang trên thế giới năm 2013[Niên giám thống kê bộ NN và PTNT, 2000] Nước Sản lượng khoai lang (tấn) Trung Quốc 70,526,000 Nigeria 3,689,696 Tanzania 3,470,304 14 PHÙNG THỊ THANH TRÚC – LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ Indonesia 2,386,729 Uganda 1,810,000 Ethiopia 1,782,725 Mozambique 1,468,575 Việt Nam 1,358,175 Angola 1,199,749 India 1,132,400 Tại Việt Nam, theo thống kê sơ bộ 2016 của tổng cục thống kê, tổng sản lượng khoai lang đạt 1289, 1 nghìn tấn, tổng diện tích trồng khoai lang đạt 119,0 nghìn ha. Khoai lang được trồng ở các khu vực như đồng bằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Bắc, Tây Nguyên và đồng bằng Sông Cửu Long.
Trong đó các vùng đồng bằng Sông Hồng, Đông Bắc, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ có xu hướng giảm diện tích trồng: Vùng Bắc Trung Bộ giảm mạnh nhất (trong 5 năm diện tích giảm 18.000 ha, sản lượng giảm 96.000 tấn); thứ hai là vùng đồng bằng Sông Hồng (diện tích giảm 16.500 ha và sản lượng giảm 117. Mặc dù vùng Bắc Trung Bộ diện tích giảm nhiều hơn vùng đồng bằng sông Hồng, song do năng suất bình quân cao hơn nên sản lượng giảm ít hơn. Các vùng có xu hướng tăng là Tây Bắc, đồng bằng Sông Cửu Long. Trong đó tăng nhiều nhất là đồng bằng Sông Cửu Long (diện tích tăng 3.300 ha, sản lượng tăng 102.200 tấn) tiếp đó là Tây Nguyên (diện tích tăng 2.400 ha, sản lượng tăng 41.3: Tình hình sản xuất khoai lang tại Việt Nam từ năm 2015 đến năm 2018 Đơn vị /năm 2015 2016 2017 2018 Diện tích (nghìn 128 120,2 121,8 127 ha) Năng suất (tạ/ha) 104,3 105,6 110,9 193,4 Sản lượng (nghìn 1335 1268,9 1350,8 1409,1 tấn) Theo dự báo của cơ quan tư vấn về nghiên cứu nông nghiệp quốc tế (CGIAR) của Liên Hợp Quốc cho biết sản xuất các cây có củ như sắn, khoai tây, khoai lang từ nay đến năm 2020 sẽ lần lượt tăng với tốc độ 1,74; 2,02 và 2,7%/năm.