phần Mở đầu (8 trang), Kết luận và Kiến nghị (2 trang), Danh mục các công trình đã công bố (1 trang), Tài liệu tham khảo (5 trang) và Phụ lục (15 trang), các nội dung chính của luận án đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu (32 trang); - Chƣơng 2: Các cách tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu (13 trang); - Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận (87 trang). 8 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU NGHIÊN CỨU 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN TRONG NGHIÊN CỨU PHƢƠNG THỨC QUẢN LÝ NHU CẦU NƢỚC SẠCH ĐÔ THỊ 1. Các khái niệm và thuật ngữ liên quan - Quản lý tổng hợp tài nguyên nước: ”Là quá trình đẩy mạnh, phối hợp phát triển và quản lý nguồn nƣớc, đất đai và các nguồn tài nguyên liên quan sao cho tối đa hoá các lợi ích kinh tế và phúc lợi xã hội một cách công bằng mà không phƣơng hại đến tính bền vững của các hệ sinh thái thiết yếu” [35].
Về mặt lý luận cũng nhƣ thực tiễn, phƣơng thức quản lý tổng hợp tài nguyên nƣớc đạt hiệu quả cao nhất khi đƣợc thực hiện theo lƣu vực sông. - Quản lý nhu cầu các nguồn tài nguyên là hƣớng tiếp cận hiện đại giúp sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên, giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng và tạo điều kiện phát triển bền vững kinh tế - xã hội [11]. - Nước sạch là nƣớc đáp ứng các chỉ tiêu chất lƣợng theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lƣợng nƣớc sinh hoạt (QCVN 02:2009/BYT do Bộ Y tế ban hành vào ngày 17/6/2009) [5]. - Nước sạch đô thị (còn đƣợc gọi là nƣớc cấp đô thị hay nƣớc máy) ở Thừa Thiên Huế là nguồn nƣớc sạch đƣợc sản xuất bởi HUEWACO và cấp cho các đô thị, khu công nghiệp và các cụm dân cƣ nông thôn.
Ngoài ra, các nguồn nƣớc UNICEF ở tỉnh Thừa Thiên Huế đƣợc nối mạng với hệ thống nƣớc sạch đô thị và do HUEWACO quản lý cũng đƣợc gọi là nƣớc sạch đô thị [6]. - Tiết kiệm và sử dụng hiệu quả nước sạch đô thị: Tiết kiệm (saving) liên quan đến nhận thức và thói quen sử dụng nƣớc, ví dụ không sử dụng bồn tắm, quan tâm đến các rò rỉ,. Trong khi đó, sử dụng hiệu quả (efficiency) đồng nghĩa với việc sử dụng một lƣợng nƣớc ít hơn nhƣng vẫn đảm bảo đầy đủ các chức năng của thiết bị dùng nƣớc, công nghệ hay quy trình sản xuất; ví dụ nhƣ hệ thống tƣới nhỏ giọt 9 z giúp tiết kiệm nhiều nƣớc nhƣng vẫn đảm bảo năng suất cây trồng hoặc máy giặt tiết kiệm nƣớc nhƣng vẫn đảm bảo giặt sạch quần áo [30]. - Quản lý nhu cầu nước sạch đô thị là phƣơng thức quản lý bao gồm việc xây dựng và thực hiện các nhóm giải pháp hay giải pháp áp dụng trên các đối tƣợng dùng nƣớc nhằm khuyến khích hoặc khuyến cáo việc tiết kiệm và sử dụng hiệu quả nguồn nƣớc sạch đô thị trong khi vẫn đáp ứng nhu cầu dùng nƣớc của khách hàng [33].
Quản lý nhu cầu là một nội dung quan trọng của quản lý tổng hợp tài nguyên nƣớc vì nó đảm bảo an ninh nƣớc cho con ngƣời. - Thiết bị tiết kiệm nước: Theo USAID (2003), kể từ sau năm 2000, các loại xí bệt hai nút xả 3 lít/6 lít, tay sen tắm có lƣu lƣợng nƣớc dƣới 10 lít/phút, máy giặt tiêu thụ nƣớc ít hơn 15 lít/kg quần áo, vòi rửa có bộ phận tạo bọt và hệ thống tƣới tiết kiệm nƣớc (giúp giảm đƣợc 15 - 40% lƣợng nƣớc tƣới) đƣợc xem là những thiết bị tiết kiệm nƣớc [52]. Tuy cụm từ thiết bị tiết kiệm nước không phản ảnh nghĩa chính xác nhƣng do đƣợc dùng phổ biến ở Việt Nam nên luận án sử dụng thuật ngữ này thay thế cho thiết bị sử dụng nước hiệu quả, ví dụ nhƣ máy giặt tiết kiệm nƣớc, tay sen tiết kiệm nƣớc,. - Kiểm toán sử dụng nước là hoạt động đo lƣờng, phân tích và đánh giá để xác định mức tiêu thụ nƣớc, tiềm năng tiết kiệm nƣớc và đề xuất các giải pháp tiết kiệm và sử dụng hiệu quả nƣớc sạch cho các đối tƣợng dùng nƣớc [30].
- Các nhóm đối tượng khách hàng sử dụng nước: Theo HUEWACO (2009), các nhóm đối tƣợng sử dụng nƣớc đƣợc quy định tóm lƣợc nhƣ sau: 1) Nhóm đối tượng sinh hoạt bao gồm các bên mua nƣớc sạch sử dụng cho nhu cầu sinh hoạt của gia đình và cá nhân; 2) Nhóm đối tượng KD – DV bao gồm các cơ sở kinh doanh thƣơng nghiệp, dịch vụ, các cơ sở du lịch và kinh doanh dịch vụ du lịch, .; 3) Nhóm đối tượng sản xuất là tất cả các bên mua nƣớc sạch để sử dụng vào sản xuất thuộc các ngành sản xuất vật chất; 4) Nhóm đối tượng HC – SN bao gồm các cơ quan hành chính Nhà nƣớc, đơn vị lực lƣợng vũ trang, trƣờng học và bệnh viện. Lý thuyết về quản lý nhu cầu dùng nƣớc Cho đến nay, quản lý nhu cầu đã trở thành khái niệm phổ biến và đƣợc áp dụng trong nhiều lĩnh vực, nhất là trong công tác bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhạy cảm và qu ý giá mà thị trƣờng không phản ảnh đƣợc các giá trị thực của chúng. Kể từ khi diễn ra hai cuộc khủng khoảng năng lƣợng thế giới vào năm 1973 và 1979, quản lý nhu cầu đƣợc áp dụng cho ngành năng lƣợng và tiếp theo sau là lĩnh vực cấp nƣớc cho nông nghiệp và đô thị [27, 28]. Khác với phƣơng thức quản lý cung truyền thống, quản lý nhu cầu cho rằng nhu cầu dùng nƣớc có thể bị ảnh hƣởng bới các công cụ kỹ thuật và chính sách khác nhau; một trong số đó là giá nƣớc.
Theo thuật ngữ trong kinh tế học, lƣợng nƣớc đƣợc sử dụng bởi các hoạt động đƣợc gọi là hàm số của giá nƣớc. Điều này có nghĩa là giá nƣớc sẽ có tác động mạnh lên lƣợng nƣớc mà khách hàng sử dụng [42]. Ảnh hƣởng của giá nƣớc lên hành vi sử dụng nƣớc của khách hàng đƣợc minh họa ở Hình 1. Đồ thị này mô tả 2 đƣờng cầu của khách hàng loại 1 và khách hàng loại 2 với sự khác nhau rõ ràng về độ dốc trên đồ thị, và sự thay đổi nhu cầu dùng nƣớc phụ thuộc vào độ dốc của hàm cầu.
Giá nƣớc Khách hàng 2 P2 P1 Khách hàng 1 Số lƣợng Q2 Q1 Hình 1. Mối quan hệ giữa nhu cầu và giá cả (Nguồn: Louw và Kassier, 2002 [39]) 11 z Đƣờng biểu diễn cho khách hàng 1 ít dốc hơn so với khách hàng 2. Khi giá nƣớc tăng lên từ P1 đến P2, việc giảm nhu cầu dùng nƣớc của khách hàng 1 sẽ lớn hơn khách hàng 2 (Q1>Q2). Vì lý do này nên nếu biểu giá nƣớc gia tăng đƣợc cho là một giải pháp của quản lý nhu cầu nƣớc thì cũng cần phải nắm rõ về tính co dãn của nhu cầu.
Nguyên lý này có thể giúp đánh giá mức độ tác động của biểu giá nƣớc lên nhu cầu dùng nƣớc [39]. Ngoài giá nƣớc, các nhân tố khác nhƣ sự gia tăng dân số, các thay đổi về thu nhập, quản lý nhu cầu, … cũng sẽ làm thay đổi nhu cầu dùng nƣớc. Công thức của O'Sullivan và Sheffrin (2003) thể hiện mối tƣơng quan này nhƣ sau: Q = f (P; Y, Prg, Pop, X) Trong đó: Q : Lƣợng cầu; P : Giá nƣớc; Y : Thu nhập; Prg : Giá cả của dịch vụ liên quan đến nƣớc; Pop : Dân số; X : Một vài thay đổi có liên quan trong tƣơng lai nhƣ BĐKH hay các giải pháp quản lý nhu cầu; Dấu ; : Các tham số bên tay phải của dấu chấm phẩy sẽ không đổi khi mối liên hệ đƣợc phân định theo hai chiều về giá cả và số lƣợng. Nếu một trong những tham số trên đây thay đổi sẽ dẫn đến sự thay đổi của đƣờng cầu; ví dụ nhƣ biến đổi khí hậu, hoặc nếu áp dụng các chính sách và giải pháp quản lý nhu cầu dùng nƣớc, đƣờng cầu của đồ thị sẽ dịch chuyển về phía bên trái vì quản lý nhu cầu sẽ giúp giảm nhu cầu sử dụng nƣớc sạch.
Sự dịch chuyển này đƣợc xem nhƣ là sự thay đổi về nhu cầu. Các dịch chuyển dọc theo đƣờng cầu chỉ xảy ra khi lƣợng cầu thay đổi do ảnh hƣởng của thay đổi giá nƣớc. Các chính sách và giải pháp quản lý nhu cầu nƣớc sạch đô thị Để có một cái nhìn cụ thể và rõ ràng hơn về phƣơng thức quản lý nhu cầu nƣớc đô thị, các nhà quản lý nƣớc cấp đô thị trên thế giới đã đƣa ra nhiều cách phân chia các chính sách và giải pháp quản lý nhu cầu khác nhau; chẳng hạn nhƣ nhóm thị trƣờng và phi thị trƣờng, nhóm công trình và phi công trình, nhóm kinh tế và phi kinh tế,. Tuy nhiên, phổ biến nhất hiện nay là sự phân chia thành nhóm chính sách và giải pháp dựa trên Mô hình vai trò công cụ chính sách trong quản lý nhu cầu nước sạch đô thị và Khung liệt kê (checklist) các giải pháp quản lý nhu cầu nước sạch đô thị của Trung tâm POLIS, Canada (POLIS Project on Ecological Governance).
Đây cũng là mô hình chính sách và khung giải pháp đƣợc IWA (2007) khuyến nghị áp dụng cho các nƣớc đang phát triển nhằm nhận diện và đề xuất các giải pháp quản lý nhu cầu nƣớc sạch đô thị một cách nhanh chóng và hiệu quả [37].2 minh họa chi tiết Mô hình vai trò công cụ chính sách trong quản lý nhu cầu nước đô thị. Mô hình này đƣợc phân thành hai hạng mục chính: mục tiêu và công cụ chính sách để đạt đƣợc mục tiêu. Mục tiêu cần phải đạt đƣợc là tạo ra các thay đổi tích cực về “tâm lý” (các thói quen và ý thức tiết kiệm nƣớc của các nhóm đối tƣợng khách hàng dùng nƣớc) và thay đổi về “vật lý” (các thiết bị dùng nƣớc và các công nghệ - kỹ thuật sử dụng nƣớc hiệu quả). Nhƣ vậy, trong lĩnh vực quản lý nhu cầu nƣớc sạch đô thị, nói đến tiết kiệm nƣớc là đề cập đến các thay đổi về thói quen và ý thức nhằm phân biệt với hiệu quả dùng nƣớc đƣợc tạo ra do sự can thiệp của các yếu tố công nghệ - kỹ thuật [43].
Tuy nhiên, mục tiêu để đạt đƣợc các thay đổi về ”tâm lý” và ”vật lý” giúp tiết kiệm và sử dụng hiệu quả tài nguyên nƣớc không chắc chắn sẽ đƣợc chấp nhận và áp dụng trong thực tế.