Đặt vấn đề Theo Karak cùng các cộng sự (2012) chất thải rắn đô thị nói chung bao gồm các thành phần rác thải phát sinh từ tiêu dùng, thương mại hay các hoạt động xây dựng bởi con người. Chúng được thu gom xử lý bởi các chính quyền quản lý. Các vấn đề liên quan tới việc tăng trưởng dân số nhanh chóng và đô thị hoá, hay sự phát triển của nền kinh tế trong xã hội đã kéo theo sự nâng cao về chất lượng sống khiến cho lượng rác thải đô thị đang ngày càng trở nên quá tải trên toàn thế giới. Theo ước tính, trung bình một người thải ra tới 521,95 – 759,2 kg rác thải trong một năm đối với các nước phát triển, trong khi đó con số này là 109,5 – 525,6 kg trên một người đối với các nước đang phát triển.
Các ước tính và đo lường trong những năm gần đây cho thấy lượng rác thải rắn đô thị được thải ra trên toàn cầu có thể đạt ngưỡng 2 tỉ tấn mỗi năm và đây được coi là một mối nguy hại tiềm tàng đối với môi trường sống của loài người. Vì vậy, công tác quản lý chất thải rắn, chất thải sinh hoạt đô thị được coi là chìa khoá cho vấn đề bảo vệ môi trường không chỉ trong hiện tại mà còn cực kì cấp thiết trong tương lai. Có thể đề cập đến một vài giải pháp chung cho vấn đề quản lý rác thải như nhiệt phân, chôn lấp, đốt. Theo Dong và các đồng sự (2019), tại Việt Nam, quá trình đô thị hoá và sự phát triển kinh tế vô cùng mạnh mẽ đang diễn ra cực kì nhanh chóng tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng hay Thành phố Hồ chí Minh.
Các hoạt động liên quan đến xây dựng cơ sở vật chất, công trình hay phá dỡ công trình để phục vụ cho mục đích kinh tế, giáo dục, xã hội, tiêu dùng đã và đang thải ra những lượng rác thải rất lớn mà chúng được gọi chung là rác thải rắn đô thị. Tương đồng với các nước phát triển hiện nay, Việt Nam rất nhanh chóng tham gia vào quá trình đô thị hoá với lượng dân số tăng lên một cách nhanh chóng. Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ No.491/QĐ-TTg ngày 07/05/2018, Việt Nam đặt mục tiêu tới năm 2025 với tầm nhìn cho đến năm 2050 là thúc đẩy việc quản lý chất thải rắn đô thị tích hợp đạt trình độ cao và hiện đại. Quyết định tập trung vào 4 giải pháp gồm thúc đẩy việc lưu trữ, thu gom, vận chuyển, tái sử Downloaded by NUOC LOC (nuocloc.com) lOMoARcPSD|38896048 12 dụng và xử lý rác thải rắn, mở rộng mạng lưới thu gom chất thải rắn, đẩy mạnh việc phân loại chất thải rắn kết hợp với giảm thiểu sự phát sinh chất thải rắn trong kinh doanh, công nghiệp, đẩy mạnh việc xã hội hoá và thu hút đầu tư tư nhân cũng như nước ngoài đối với việc quản lý chất thải rắn đô thị.
Và trong năm 2018, lượng rác thải sinh hoạt phát sinh tại Việt Nam được ước tính lên tới con số 32000 tấn mỗi ngày với mức tăng từ 10-16% mỗi năm. Có thể thấy, việc lượng rác thải gia tăng nhanh chóng như vậy cần thiết phải có các chính sách quản lý rác thải và phương pháp quản lý rác thải phù hợp tới từ mỗi cá nhân, người dân và toàn xã hội nhằm giảm thiểu tình trạng quá tải của rác thải đô thị trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang phát triển với tốc độ mạnh mẽ và gây ra sự tương đồng đối với các nước phát triển về vấn đề rác thải. Theo Minelgaitė và nhóm nghiên cứu của mình (2019), vấn đề phát sinh rác thải là một vấn dề chung của toàn cầu và đặc biệt cấp thiết tại Châu Âu. Tại đây, người ta đã quan sát thấy các vấn đề khác biệt đối với việc phát sinh chất thải rắn độ thị.
Mức độ phát sinh chất thải phụ thuộc mạnh mẽ vào sự phát triển của nền kinh tế. Một trong những công cụ hữu hiệu nhất cho giải pháp đối với vấn đề rác thải là đẩy mạnh và nâng cao công tác, hành vi tái chế, tái sử dụng cũng như giảm thiểu rác thải. Tuy nhiên, kết quả chỉ ra rằng mức độ giảm thiểu và tái sử dụng không có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ phát sinh rác thải. Do đó, các nước đang tìm kiếm việc giảm thiểu lượng phát sinh rác thải cần chú trọng hơn đến thúc đẩy việc tiêu dùng và sản xuất một cách bền vững.
Trong khi đó, hành vi tái chế rác thải và sự phát sinh rác thải lại có mối quan hệ mật thiết. Việc phân tích các yếu tố quyết định tới hành vi xử lý rác thải, thái độ đối với sự phát sinh rác thải cá nhân có liên quan tới mọi hoạt động quản lý và xử lý rác thải. Trong khi đó, thái độ có ảnh hưởng lớn tới việc quản lý rác thải nói chung nhưng không quá đáng kể đối với các hành vi giảm và tái chế rác thải. Vì vậy mà chỉ những ai hiểu được sự ảnh hưởng của họ tới vấn đề rác thải mới để tâm nhiều hơn đến các vấn đề hành vi xử lý rác thải.
Hơn nữa, những nỗ lực để giảm thiểu rác thải chỉ phần nhiều liên quan tới hành vi tái chế trong khi thái độ với việc sử dụng tài nguyên không có mối liên hệ đáng kể đối với các hành vi quản lý và xử lý rác thải, điều này cho thấy sự thiếu kiến thức của người dân Châu Âu về mối liên hệ giữa việc giảm thiểu rác đối với việc sử dụng nguồn tài nguyên một cách hợp lý. Theo Dong, J và các cộng sự (2019), việc biến rác thải thành năng lượng đã dần Downloaded by NUOC LOC (nuocloc.com) lOMoARcPSD|38896048 13 đóng một vai trò quan trọng ngày càng lớn đối với việc hồi phục năng lượng tới từ rác thải rắn đô thị. Hiện nay, các loại công nghệ liên quan tới việc biến rác thải thành năng lượng đang được chú trọng phát triển. Tuy nhiên, việc đưa ra các lựa chọn bền vững đang dần trở nên khó khăn hơn do sự giới hạn về thông tin dữ liệu công nghệ kỹ thuật và do cả những biện pháp ngắn hạn được đưa ra ngày càng nhiều.
Có thể kể đến một số giải pháp tương ứng cho vấn đề công nghệ rác thải như thiêu huỷ, khí hoá, nhiệt phân kết hợp với đun chảy được coi là các phương hướng hữu hiệu nhằm phát triển ngành công nghiệp năng lượng rác thải. Vậy, vấn đề cấp thiết được đặt ra hiện nay, rằng sự quá tải của rác thải đang ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn không chỉ tại các nước có nền kinh tế, trình độ đô thị cao mà ngay tại Việt Nam, sự đô thị hoá và gia tăng dân số đã tất yếu dẫn đến sự phát sinh rác thải tăng vọt trong hàng chục năm trở lại đây. Dù cho chính phủ, các tổ chức xã hội, cá nhân đều đang tích cực đưa ra các chính sách, phương pháp nhằm giải quyết vấn đề trên nhưng chưa thấy được sự hiệu quả của những hoạt động ấy. Tất yêu đặt ra nhu cầu cấp thiết cho một giải pháp hiện đại hơn, vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội cho các vấn đề quá tải rác tại Việt Nam.
Tổng quan nghiên cứu 2. Các tiềm năng tái tạo năng lượng từ rác thải và các mô hình nghiên cứu Trong bài nghiên cứu của nhóm tác giả Xu cùng các cộng sự của mình (2019), bài nghiên cứu sử dụng các phương pháp thu thập dữ liệu như mô hình dự báo hội nhập, mô hình trung bình động tích hợp tự hồi quy vi sai mô hình mạng nơ-ron (NNM), mô hình máy vectơ hỗ trợ (SVM) và tiến hành sử dụng mô hình nghiên cứu gồm kinh tế, kỹ thuật, chính trị và các yếu tố xã hội. Trong đó biến kinh tế được sử dụng nhằm phân tích vấn đề phát triển kinh tế của từng khu vực và mức tiêu thụ của người dân. Biến kỹ thuật được sử dụng để phân tích và nghiên cứu sự phát triển của năng lượng tái tạo, an ninh năng lượng và các thiết bị cung cấp năng lượng.
Biến chính trị được sử dụng để phân tích các chính sách và hệ thống đối với năng lượng tái tạo cũng như tầm nhìn và khả năng đáp ứng về chính sách của chính phủ đối với vấn đề trên. Biến xã hội được sử dụng để phân tích nhận thức của người đối với năng lượng tái tạo, môi trường và nguồn tài nguyên xã hội. Có thể chắt lọc từ bài nghiên cứu trên Downloaded by NUOC LOC (nuocloc.com) lOMoARcPSD|38896048 14 những biến số về yếu tố ảnh hưởng tới tiềm năng của rác thải đối với bài nghiên cứu của nhóm. Chính sách Dân số Tiềm năng tái tạo năng lượng từ rác thải Tài nguyên xã hội Hình 0.1: Mô hình các yếu tố ảnh hưởng tới tiềm năng tái tạo năng lượng từ rác thải Nguồn: Xu, X.
Şener và các đồng sự (2018) đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của môt quốc gia, yêu cầu về năng lượng đang ngày càng trở nên quan trọng. Không giống như những loại tài nguyên khác, năng lượng tái tạo mang lại rất nhiều những lợi ích như sự bảo đảm về an ninh năng lượng, sự phát triển năng lượng bền vững và sự giảm thiểu về khí thải, đặc biệt là khí thải nhà kính. Tuy nhiên, có những tỷ trọng khác nhau đối với năng lượng tái tạo của một quốc gia. Nghiên cứu này chỉ ra những ưu điểm và nhược điểm nhằm làm rõ những vấn đề liên quan tới con đường phát triển năng lượng của một quốc gia.
Trong tổng số 1431 bài nghiên cứu lý thuyết và 60 bài nghiên cứu khoa học đã chọn ra một khung lý thuyết nhằm xác định những nhân tố ảnh hưởng tới tiềm năng của việc khai thác năng lượng từ rác thải bao gồm các yếu tố chính là kinh tế, môi trường, chính trị, quy định, xã hội, tiềm năng khoa học và công nghệ khoa học. Trong các biến số trên, kinh tế được coi là một trong những yếu tố được đề cập xuyên suốt bài nghiên cứu, trong khi đó yếu tố môi trường là yếu tố được ít nhắc tới nhất. Các biến số trên được phân loại thành cơ hội, thách thức và các Downloaded by NUOC LOC (nuocloc.com) lOMoARcPSD|38896048 15 yếu tố chưa xác định đối với việc triển khai năng lượng tái tạo dựa trên mẫu phân tích thống kê số liệu. Kinh tế, môi trường và các yếu tố xã hội được xem như những cơ hội trong khi chính trị, quy định, tiềm năng công nghệ sẽ không được coi như là cơ hội hay thách thức.
Không có bất cứ biến số nào được coi là thách thức.