MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong bốn năm trở lại đây, sự xuất hiện của bệnh COVID-19 gây ra bởi virus SARS-CoV-2 đã, đang và sẽ có những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, an ninh, kinh tế, xã hội của tất cả các quốc gia trên thế giới và Việt Nam cũng không nằm ngoài tác động đó. Khoảng nửa sau năm 2021, nước ta chứng kiến dịch bệnh hoành hành, nhất là tại các tỉnh phía Nam, gây thiệt hại không nhỏ về nhân mạng và ảnh hưởng sâu sắc đến an sinh xã hội. Các quy định về giãn cách xã hội, cùng sự xuất hiện nhanh kỉ lục của các loại vắc-xin đã góp phần đẩy lùi dịch bệnh, đưa nước ta trở về trạng thái bình thường.
Tuy nhiên, do bản chất là virus nên SARS-CoV-2 có khả năng đột biến rất nhanh. Do đó, các nhóm nghiên cứu vẫn đang phát triển những cách tiếp cận sâu sát hơn, tập trung vào những vị trí cốt yếu mà virus ít biến đổi theo thời gian, đem lại những giải pháp chữa trị, phòng ngừa bền vững. Một trong những giải pháp tiềm năng là sử dụng các chất có hoạt tính có nguồn gốc từ các loài thảo dược tự nhiên. Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 30 tháng 01 năm 2023 của Bộ Chính trị, về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới, có đề cập đến nhiệm vụ “sản xuất nguyên liệu và các loại thuốc sinh học, thực phẩm chức năng có nguồn gốc từ thảo dược”.
Đây là sự chỉ đạo rõ ràng, cao nhất về định hướng phát triển, ứng dụng các hợp chất có hoạt tính vào đời sống. Tuy nhiên, để kết luận tính khả thi của các hợp chất này sẽ kéo dài nhiều năm. Để hỗ trợ quá trình nghiên cứu nhằm đưa ra kết luận về một hợp chất có thể được sử dụng làm dược phẩm hay không, cần có những cách phương pháp mới nhằm rút ngắn thời gian nghiên cứu. Một trong các cách tiếp cận đang có ưu thế là mô phỏng, sử dụng sức mạnh tính toán của máy tính để đưa ra những nhận định lý thuyết ban đầu về mức độ, cơ chế tương tác, tính an toàn; làm nền tảng cho các nghiên cứu trực tiếp trên sinh vật sống sau này.
Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu lý thuyết: Đánh giá được khả năng tác động của các hợp chất có hoạt tính và trả lời tính khả thi về mặt hóa lý khi sử dụng các chất đó trong việc ngăn chặn 2 sự xâm nhập, hoạt động, sinh trưởng của virus SARS-CoV-2 trong điều kiện mô phỏng, cô lập. Mục tiêu ứng dụng: Thông qua những kết quả định tính, định lượng từ các phương pháp tính toán và mô phỏng, luận văn sẽ đưa ra gợi ý về tính an toàn, tính khả thi trong việc sử dụng các hợp chất từ họ một họ thực vật phổ biến trong hỗ trợ điều trị bệnh nhân mắc COVID-19. Qua đó, mở đường cho các nghiên cứu thực nghiệm trên tế bào và các sinh vật sống. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Các cấu trúc các hợp chất có hoạt tính trong họ thực vật Dâu tằm; cấu trúc các thụ thể protein của virus SARS-CoV-2 và một cấu trúc thụ thể tế bào người có liên quan.
Phạm vi không gian của nghiên cứu là trên hai hệ thống máy tính được thiết lập để đáp ứng các yêu cầu về khả năng thực thi các tác vụ tính toán dựa trên các công cụ được sử dụng. Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu Trình bày chi tiết cách tiếp cận phù hợp cho các nghiên cứu sử dụng phương pháp mô phỏng. Trình bày được những ưu điểm, thách thức khi sử dụng phương pháp này; so sánh với các phương pháp thực nghiệm hiện nay. Sử dụng hiệu quả sức mạnh máy tính, phương pháp mô phỏng phù hợp với tiêu chuẩn; ứng dụng phần mềm, kỹ thuật hiện đại để xử lý và phân tích kết quả mô phỏng.
Khối lượng tính toán lớn, cho kết quả nhanh, chính xác và tin cậy ở mức độ nhất định. Giá trị thực tiễn của đề tài nghiên cứu Đánh giá được khả năng, cơ chế tác động của các chất có hoạt tính và trả lời tính khả thi khi sử dụng các chất đó trong việc ngăn chặn sự sinh trưởng của virus SARS- CoV-2 trong điều kiện mô phỏng tính toán, hệ cô lập. Qua đó, đưa ra những gợi ý trong việc sử dụng các chất này trong hỗ trợ điều trị bệnh nhân mắc COVID-19. Đánh giá về khả năng tương tác giữa các chất có hoạt tính, tiềm năng từ họ thực vật Dâu tằm trên thế giới, với một số thụ thể của virus SARS-CoV-2 và một thụ thể của người có liên quan đến bệnh COVID-19.
Tổng quan về bệnh COVID-19 1. Tác động của bệnh COVID-19 COVID-19 là bệnh viêm đường hô hấp cấp gây ra bởi virus SARS-CoV-2 được xác nhận lần đầu tại thành phố Vũ Hán, Trung Quốc [1]. Tính đến tháng 4/2024, đã có khoảng 775 triệu ca nhiễm và khoảng 7 triệu ca tử vong (theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), qua cổng thông tin: covid19. Bên cạnh những tác động trực tiếp đến sức khỏe con người cả về thể chất lẫn tinh thần, COVID-19 đã và đang có những tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống.
Dự báo tổng GDP kinh tế thế giới trong giai đoạn 2020 đến 2025 có thể sụt giảm từ 17 nghìn đến 35 nghìn tỉ đô la Mỹ so với không có đại dịch [2]. Đại dịch cũng tác động đến an ninh lương thực toàn cầu khi khiến giá thực phẩm tăng 20% trong giai đoạn 2020-2021 [3]. Các hoạt động nghiên cứu khoa học toàn cầu cũng chịu ảnh hưởng khi số công bố khoa học không liên quan đến bệnh COVID-19 giảm 18% trong gian đoạn 2019-2020 [4]. Hoạt động giáo dục, thể hiện thông qua kết quả học tập của học sinh có sự giảm sút, nhất là ở các môn toán/khoa học [5]; mặc dù vậy, đại dịch góp phần đẩy nhanh tốc độ ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và đem lại những tiến bộ đáng kể về nhận thức trong cách tiếp cận này tại nước ta [6].
Tác động đến môi trường của đại dịch cũng là vấn đề đáng quan tâm. Trong giai đoạn giãn cách, các chỉ số về môi trường có sự cải thiện khi nồng độ các yếu tố ô nhiễm không khí giảm; tuy nhiên các yếu tố liên quan đến phát thải từ các trang bị bảo hộ y tế như nhựa, vi nhựa có chiều hướng gia tăng tại các vùng ven biển [7]. Tuy những tiến bộ trong sản xuất vắc-xin đã làm giảm đáng kể số ca nhiễm và tử vong [8] nhưng mối nguy về những đợt bùng phát xuất hiện từ những biến chủng mới vẫn còn hiện hữu, tiêu biểu là sự xuất hiện của biến chủng Omicron với cấu trúc một thụ thể bề mặt có mức độ khác biệt cao so với các chủng trước đây, do bản chất virus có tốc độ đột biến cao hơn các loại mầm bệnh khác [9]. Các cơ quan trong cơ thể bị tác động bởi virus SARS-CoV-2 Sau khi xâm nhập thông qua đường hô hấp, các loại Coronavirus, như virus SARS-CoV (còn gọi là SARS-CoV-1, virus gây dịch SARS đầu những năm 2000), sẽ tấn công vào các tế bào biểu mô phế nang, biểu mô mạch máu và các đại thực bào ở phế nang [10], thông qua quá trình bám vào thụ thể angiotensin-converting enzyme 2 (ACE2) trên bề mặt của các tế bào tại đây.
Những vị trí này có thể là nơi khởi đầu quá trình xâm nhập và sau đó là phân chia của virus vì có mức độ biểu hiện thụ thể ACE2 cao, hơn cả trên phổi [11]. Ngoài ra, có thể xem sự tác động của virus lên cơ thể không chỉ dựa trên duy nhất một thụ thể mà là một sự tổng hòa của nhiều yếu tố khác, mang những đặc điểm đặc trưng sau: Đầu tiên, ngoài ACE2, sự xâm nhập vào tế bào của virus còn phụ thuộc vào sự xuất hiện của thụ thể transmembrane protease serine 2 (TMPRSS2) vì có những trường hợp virus xâm nhập vào tế bào gần như không biểu hiện ACE2 trên bề mặt, miễn là TMPRSSS2 có xuất hiện trên bề mặt tế bào [12]. Thứ hai, sự biểu hiện phiên mã mRNA của các gene của tế bào vật chủ có liên hệ đến chu kì sinh trưởng SARS- CoV-2 (như hệ endosomal sorting complex, liên hệ đến quá trình xuất bào của virus), cao hơn ở quần thể người có tế bào biểu mô phế nang loại II, vốn có nhiều ACE2 ở bề mặt tế bào hơn các loại tế bào hô hấp khác [13]. Điều này cho thấy tế bào biểu mô phế nang loại II có thể là mục tiêu chính của virus vì lượng ACE2 trên bề mặt của nó.
Cuối cùng, khác với SARS-CoV-1, SARS-CoV-2 có một cơ chế đặc trưng là sự chỉnh sửa một phần thụ thể bám bằng enzyme furin, để quá trình xâm nhập không phụ thuộc hoàn toàn vào các thụ thể đã nêu của tế bào vật chủ, tăng tỉ lệ xâm nhập vào các loại tế bào khác. Furin có nhiều trong tế bào biểu mô phế quản [14]. Một điểm khác biệt nữa so với SARS-CoV-1 là SARS-CoV-2 có khả năng làm lây nhiễm đường hô hấp trên hiệu quả hơn, như tại vòm mũi họng và hầu họng. Các mô tại các khu vực này có biểu hiện ACE2, mà SARS-CoV-2 có khả năng bám vào mạnh hơn [15].
Việc dễ dàng xác nhận sự hiện diện của virus ở khu vực này trên các mẫu chất nhầy của bệnh nhân trong giai đoạn tiền triệu chứng phần nào giải thích cho sự lây lan mạnh hơn của SARS-CoV-2 so với SARS-CoV-1 [16]. Quá trình phát sinh bệnh COVID-19 Cảm cúm thông thường do Coronavirus gây ra chỉ dẫn đến những triệu chứng nhẹ ở khu vực đường hô hấp trên và tiêu chảy. Nhưng với SARS-CoV-2 sẽ dẫn đến các triệu chứng giống cúm ở thể nặng, có thể dẫn đến hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS), viêm phổi, suy thận và tử vong [17]. Một số triệu chứng tiêu biểu trong giai đoạn mới nhiễm bao gồm sốt, ho và khó thở [18].
Thời gian ủ bệnh của COVID- 19 chỉ trong khoảng 5 đến 6 ngày so với 02 đến 11 ngày của bệnh SARS [19]. Bên cạnh những tác động tức thời lên hệ hô hấp và hệ tiêu hóa, COVID-19 còn có những tác động lâu dài như có thể gây viêm cơ tim [20]. Ngoài ra, những ca bệnh nặng không chỉ giới hạn ở nhóm bệnh nhân lớn tuổi mà mở rộng tới tất cả các nhóm tuổi [21], dù trên thực tế những ca tử vong, ca nặng vẫn phổ biến hơn ở nhóm lớn tuổi. Một báo cáo tại Hà Nội cho thấy trong năm 2021 ghi nhận 409 ca tử vong vì bệnh COVID-19, với tỉ lệ nam/nữ gần tương đương (1/1,08).