CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT VÀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH 1. Tổng quan về công tác phân loại, thu gom, xử lý CTR sinh hoạt trên thế giới và Việt Nam 1. Tổng quan về quản lý CTR sinh hoạt trên thế giới 1. Tình hình phát sinh chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới Lượng rác thải sinh hoạt phụ thuộc rất lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội, dân số và thói quen tiêu dùng của con người.
Ở mỗi quốc gia có tỷ lệ phát sinh rác thải khác nhau, cụ thể như sau: Bangkok là 1,6kg/người/ngày; Singapore là 2 kg/người/ngày; Hồng Kông là 2,2 kg/người/ngày; New York là 2,65kg/người/ngày. Theo số liệu thống kê của Bộ Môi trường Nhật Bản, hàng năm Nhật Bản có khoảng 450 triệu tấn rác thải. Đối với rác thải sinh hoạt của các gia đình khoảng 70% được tái chế thành phân bón hữu cơ, góp phần giảm bớt nhu cầu sản xuất và nhập khẩu phân bón. Ở Nga, mỗi người bình quân thải ra môi trường 300kg/người/năm rác thải tương đương một năm nước này thải ra môi trường khoảng 50 triệu tấn rác, riêng thủ đô Matxcơva là 5 triệu tấn/năm.
Theo Ngân hàng Thế giới, các đô thị của Châu Á mỗi ngày phát sinh khoảng 760.000 tấn chất thải rắn đô thị. Đến năm 2025, dự tính con số này sẽ tăng tới 1,8 triệu tấn/ngày. Và tại các thành phố lớn như New York tỷ lệ phát sinh chất thải rắn là 1,8kg/người/ngày, Singapore, Hồng Kông là 0,8-10kg/người/ngày.1: Lượng phát sinh chất thải rắn ở một số nước trên thế giới Lượng phát sinh CTR Dân số đô thị hiện nay Tên nước đô thị hiện nay (% tổng số) (kg/người/ngày) Nước thu nhập thấp 15,92 0,40 Nepal 13,7 0,50 Bangladesh 18,3 0,49 Việt Nam 20,8 0,55 Ấn Độ 26,8 0,46 Nước thu nhập trung bình 40,8 0,79 Indonesia 35,4 0,76 Philippines 54,0 0,52 Thái Lan 20,0 1,10 Malaysia 53,7 0,81 Nước có thu nhập cao 86,3 1,39 Hàn Quốc 81,3 1,59 Singapose 100 1,10 Nhật Bản 77,6 1,47 (Nguồn: Bộ môn sức khoẻ môi trường, 2006 [2]) Dân thành thị ở các nước phát triển phát sinh chất thải rắn nhiều hơn ở các nước đang phát triển gấp 6 lần, cụ thể ở các nước phát triển là 2,8kg/người/ngày; ở các nước đang phát triển là 0,5kg/người/ngày. Tình hình quản lý, xử lý CTR sinh hoạt trên thế giới Chất thải rắn sinh hoạt được xử lý bằng nhiều phương pháp khác nhau như: phương pháp chôn lấp, đốt, ủ phân compost với nhiều công nghệ được áp dụng như công nghệ sinh học, công nghệ sử dụng nhiệt, công nghệ Seraphin,.
Tình hình áp dụng các phương pháp này ở một số nước trên thế giới như sau: 6 Bảng 1.2: Tỷ lệ % CTR xử lý bằng các phương pháp khác nhau ở một số nước TT Tên quốc gia Tái chế Chế biến phân vi sinh Chôn lấp Đốt 1 Canada 10 2 80 8 2 Đan Mạch 19 4 29 48 3 Phần Lan 15 0 83 2 4 Pháp 3 1 54 42 5 Đức 16 2 46 36 6 Ý 3 3 74 20 7 Thụy Điển 16 34 47 3 8 Thụy Sĩ 22 2 17 59 9 Mỹ 15 2 67 16 (Nguồn: Đỗ Thị Lan và cs, 2007[11]) Từ bảng 1.2 trên cho thấy phương pháp chôn lấp được nhiều quốc gia lựa chọn nhất ngay cả với những nước phát triển như Canada, Phần Lan, Mỹ cũng lựa chọn phương pháp này. Phương pháp chế biến phân vi sinh chưa được áp dụng nhiều, ngay cả ở Italia nơi sáng tạo ra phương pháp ủ phân compost thì chỉ có 2-3% khối lượng rác được xử lý. Phương pháp đốt cũng chỉ xử lý được 10% rác thải ở Anh - nơi sáng tạo ra phương pháp này. Hiện nay một số nước phát triển trên thế giới đã có những mô hình phân loại và thu gom, xử lý rác thải rất hiệu quả, cụ thể: - California: Nhà quản lý cung cấp đến từng hộ gia đình nhiều thùng rác khác nhau sau đó rác sẽ được thu gom, vận chuyển, xử lý hoặc tái chế 3 lần/tuần với chi phí phải trả là 16,39 USD/tháng.
Tất cả chất thải rắn được chuyển đến bãi rác với giá 32,38USD/tấn. Phí thu gom rác được tính dựa trên khối lượng rác, kích thước rác, theo cách này có thể hạn chế đáng kể lượng rác phát sinh. Để giảm giá thành thu gom rác, thành phố cho phép nhiều đơn vị cùng đấu thầu việc thu gom và chuyển chở rác. - Nhật Bản: Các gia đình Nhật Bản đã phân loại chất thải thành 3 loại riêng biệt và cho vào 3 túi với màu sắc theo quy định: rác hữu cơ, rác vô cơ (giấy, vải, thủy tinh, kim loại,.
Rác hữu cơ được đưa đến nhà máy xử lý rác thải để sản xuất phân vi sinh. Các loại rác vô cơ được đưa đến cơ sở tái chế hàng 7 hóa. Rác còn lại được đưa đến hầm ủ có nắp đậy và chảy trong một dòng nước có thổi khí rất mạnh để phân giải chúng một cách triệt để, kết quả sẽ được sản phẩm là các cặn rác không còn mùi được đem nén thành các viên gạch lát vỉa hè rất xốp, có tác dụng hút nước khi trời mưa (Dự án Danida, 2007) [8]. - Singapore là nước đô thị hóa 100% và là đô thị sạch nhất trên thế giới.
Để có được kết quả như vậy, Singapore đầu tư cho công tác, phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý rác đồng thời xây dựng một hệ thống luật pháp nghiêm khắc làm tiền đề cho quá trình xử lý rác thải tốt hơn. Rác thải ở Singapore được thu gom và phân loại bằng túi nilon. Các chất thải có thể tái chế được đưa về các nhà máy tái chế lại, còn các loại chất thải khác được đưa về nhà máy để thiêu hủy. Tham gia vào công việc này có công ty và các khu dân cư, trong đó có hơn 300 công ty tư nhân chuyên thu gom rác thải công nghiệp và thương mại.
Tất cả các công ty này đều được cấp giấy phép hoạt động và chịu sự giám sát kiểm tra trực tiếp của Sở Khoa học công nghệ và môi trường. Ngoài ra các hộ dân được khuyến khích tự thu gom và vận chuyển rác thải, chẳng hạn đối với các hộ dân thu gom rác trực tiếp tại nhà phải trả phí 17 đô la Singapore/tháng, thu gom gián tiếp tại các khu dân cư chỉ phải trả phí 7 đô la Singapore/tháng (Lê Huỳnh Mai và cs, 2009) [13]. - Trung Quốc: Tại đây phương hướng chủ đạo trong phát triển ngành công nghiệp xử lý rác thải sinh hoạt là chuyển từ chôn lấp sang đốt phát điện. Theo “Quy hoạch xây dựng hệ thống xử lý rác thải sinh hoạt tại thành phố, thị trấn trong toàn quốc “5 năm lần thứ XII”” của Trung Quốc, tổng đầu tư xây dựng khoảng 263,6 tỷ NDT.
Cuối năm 2012 Trung Quốc có 142 nhà máy đốt rác phát điện đã được xây dựng và đưa vào vận hành hoạt động, tổng quy mô xử lý là 124 nghìn tấn, tổng công suất lắp đặt khoảng 2. Dự kiến đến năm 2015, khả năng thiêu đốt rác thải phát điện trên toàn quốc có thể đạt 310 nghìn tấn/ngày [30]. Tổng quan về quản lý CTR sinh hoạt ở Việt Nam 1. Tình hình phát sinh CTR sinh hoạt tại các đô thị của Việt Nam Trong những năm qua, tốc độ đô thị hóa ở Việt Nam diễn ra rất nhanh và trở thành nhân tố tích cực đối với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, 8 bên cạnh những lợi ích về kinh tế - xã hội, đô thị hóa quá nhanh đã tạo ra sức ép lên môi trường với sự góp phần của các nhân tố như chất thải rắn sinh hoạt, đặc biệt chất thải rắn phát sinh tại các đô thị và khu công nghiệp. Năm 2014 tổng lượng CTR sinh hoạt tại Việt Nam ước tính khoảng 12,8 triệu tấn/năm, trong đó khu vực đô thị là 6,9 triệu tấn/năm chiếm 54%, còn lại tập trung tại các huyện lỵ, thị xã, thị trấn. Dự báo đến năm 2020 tổng lượng CTR sinh hoạt đô thị sẽ khoảng 22 triệu tấn/năm. Lượng CTR sinh hoạt phát sinh chủ yếu tập trung ở 2 thành phố lớn là Hà Nội và Việt Nam.
[29] Đến năm 2015 dự báo khối lượng chất thải rắn phát sinh ước đạt khoảng 44 triệu tấn/năm, đặc biệt là CTR đô thị và công nghiệp. Theo báo cáo môi trường quốc gia năm 2010, tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đã tăng tới 0,9 kg lên 1,2kg/người/ngày ở các thành phố lớn, từ 0,5 lên 0,65kg/người/ngày tại các đô thị nhỏ. Lượng chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị ở nước ta với số liệu tổng hợp năm 2007 cụ thể tại bảng 1.3 như sau: Bảng 1.3: Lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ở các đô thị Việt Nam đầu năm 2007 Lượng CTRSH bình Lượng CTRSH phát sinh TT Loại đô thị quân/người Tấn/ngày Tấn/năm (kg/người/ngày) 1 Đặc biệt 0,84 8.930 (Nguồn: Cục bảo vệ môi trường, 2008 [5]) Tính theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế - xã hội) thì các đô thị vùng Đông Nam Bộ có lượng chất thải rắn sinh hoạt lớn nhất tới 2.245 tấn/năm (chiếm 37,94% tổng lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt các đô thị loại III trở lên của cả nước), tiếp đến là các đô thị vùng đồng bằng sông Hồng có lượng phát sinh 9 chất thải rắn sinh hoạt đô thị là 1.4 thể hiện lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị tại các vùng địa lý của Việt Nam năm 2007 như sau: Bảng 1.4: Lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị theo vùng địa lý Việt Nam đầu năm 2007 Lượng CTRSH bình Lượng CTRSH Đơn vị hành chính quân/đầu người đô thị phát sinh TT (kg/người/ngày) Tấn/ngày Tấn/năm 1 ĐB sông Hồng 0,81 4.350 4 Bắc Trung Bộ 0,66 755 275.575 5 Duyên Hải NTB 0,85 1.250 7 Đông Nam Bộ 0,79 6.245 8 ĐB sông Cửu Long 0,61 2.4 nhận thấy, các đô thị khu vực miền núi Tây Bắc Bộ có lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị thấp nhất chỉ có 69.350 tấn/năm với mức chuẩn thải là 0,75kg/người/ngày, tiếp đến là các đô thị thuộc các tỉnh vùng Tây Nguyên, tổng lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị là 237. Các đô thị khu vực Đông Nam Bộ có lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị cao nhất là 2.245 tấn/năm với mức phát sinh là 0,79kg/người/ngày.
Theo số liệu của Bộ Xây dựng, tính đến năm 2009 tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh trên toàn quốc ước tính khoảng 21. Dự báo của Bộ Xây dựng và Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, đến năm 2015 khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ các đô thị ước tính khoảng 37.000 tấn/ngày và năm 2020 là 59.000 tấn/ngày cao gấp 2-3 lần hiện nay.