đặt vấn đề xóa đói giảm nghèo là nhiệm vụ lâu dài và trọng yếu. Thực ra tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng đến việc giả quyết vấn đề nghèo đói, bởi vì nguyên nhân chính yếu của đói nghèo nói chung là kinh tế chưa phát triển. Tuy nhiên, đói nghèo lại do nhiều nguyên nhân khác mang tính đặc thù, trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay chúng ta chấp nhận kinh tế nhiều thành phần cùng vận động, phát triển cũng là phải chấp nhận tình trạng giàu nghèo tương đối. Vì vậy, xóa đói giảm nghèo không những là công việc cần thiết mà là nhiệm vụ cấp bách và quan trọng.
Chúng ta xác định sự phân hóa giàu nghèo không thể tránh khỏi, nên cũng quyết tâm không để xảy ra tình trạng làm giàu vô tội vạ trên lưng người khác, cũng như tình trạng “ kẻ ăn không hết, người lần không ra”, không để người nghèo bị bỏ rơi trước con mắt của công đồng. Xóa đói giảm nghèo và thực hiện công bằng xã hội không có nghĩa là kìm hãm sự phát triển kinh tế, không mang tính chất cào bằng [15]. Kinh nghiệm của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu trước đây đã cho thấy, nếu đặt công bằng xã hội lên trên hết và tách rời với phát triển kinh tế thì trước hết dẫn tới sự triệt tiêu các động lực phát triển. Tuy nhiên, nếu đặt hiệu quả kinh tế là mục tiêu duy nhất thì sẽ làm tăng tình trạng phân hóa hai cực, làm tăng sự khốn đốn với không ít quần chúng nhân dân.
Bởi vậy trong khi thực hiện bài toán phát triển đất nước, làm sao phải tạo mọi điều kiện và tăng nguồn lực cho sự phát triển, đồng thời hạn chế mặt tiêu cực của nó, đặt vấn đề xóa đói giảm nghèo thành công việc thường xuyên, liên tục. Xóa đói giảm nghèo là công việc của toàn xã hội [15]. Cần khẳng định một cách mạnh mẽ rằng, xóa đói giảm nghèo không dừng lại ở việc thực hiện chính sách xã hôi, không phải việc của riêng ngành lao động - xã hội hay một số ngành khác, mà là nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, mà là nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn dân. Muốn thực hiện thành công việc xóa đói giảm nghèo, tất cả mọi cán bộ Đảng, chính quyền phải quan tâm cùng giải quyết, thực hiện giải pháp một cách đồng bộ và phải có sự tham gia của toàn thể cộng đồng.
Cơ sở thực tiễn 2. Hoạt động xóa đói giảm nghèo trên thế giới Đói nghèo là vấn đề đặt ra cho tất cả các quốc gia trên thế giới, nó trở thành vấn nạn trên toàn cầu. Trong lịch sử có nhiều nạn đói chết hàng triệu người dân châu Á, châu Phi. Thực trạng đói nghèo trên thế giới đang diễn ra theo chiều hướng rất đáng báo động.
Theo một nghiên cứu của WB, nguy cơ đối với người nghèo đang gia tăng trên quy mô toàn cầu và tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm trong năm 2009 đã đẩy thêm 53 triệu người nữa rơi vào tình trạng nghèo đói, thêm vào con số 130- 155 triệu người năm 2008, khi giá nhiên liệu và thực phẩm tăng cao [16]. Ngày 15/5/2012, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đưa ra nghiên cứu năm 2012 về thị trường lao động, nhấm mạnh từ những năm qua, tình trạng nghèo khổ gia tăng không còn là vấn đề đáng lo ngại ở các nước phát triển. Từ khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu bùng nổ, tỷ lệ nghèo khổ đã giảm mạnh ở 75% các nước đang phát triển, nhưng lại đang tăng lên ở 25 nước trong 36 nước phát triển [16]. Đói nghèo đã trở thành thách thức lớn, đe dọa đến sự sống còn, ổn định và phát triển của thế giới và nhân loại.
Sở dĩ như vậy bởi vì thế giới là một chỉnh thể thống nhất, và mỗi quốc gia là một chủ thể trong chính thể thống nhất. c 17 Toàn cầu hóa đã trở thành cầu nối liên kết giữa các quốc gia lại với nhau, các quốc gia có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, sự ổn định và phát triển của một quốc gia có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến sự ổn định và phát triển của các quốc gia khác. Nghèo đói đe dọa đến sự sống của loài người bởi. “Nghèo đói đã trở thành một vấn đề toàn cầu có ý nghĩa chính trị đặc biệt quan trọng, nó là nhân tố có khả năng gây bùng nổ những bất ổn chính trị, xã hội và nếu trầm trọng hơn có thể dẫn tới bạo động và chiến tranh” không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà là cả thế giới.
Bởi những bất công và nghèo đói thực sự đã trở thành những mâu thuẫn gay gắt trong quan hệ quốc tế, và nếu những mâu thuẫn này không được giải quyết một cách thỏa đáng bằng con đường hòa bình thì tất yếu sẽ xảy ra chiến tranh [16]. Kinh nghiện giảm nghèo của số nước trên thế giới a. Hàm Quốc Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, Chính phủ Hàn Quốc không chú ý đến việc phát triển nông nghiệp nông thôn mà đi vào tập trung phát triển ở các vùng đô thị, xây dựng vực nông thôn, cuộc sống nghèo đói, tuyệt đại đa số là tá điền, ruộng đất tập trung ở các thành phố lớn, thế nhưng 60% dân số Hàn Quốc sống ở khu trung vào sở hữu của giai cấp địa chủ, nhân dân sống trong cảnh nghèo đói tột cùng. Từ đó gây ra làn sóng di dân tự do từ nông thôn vào thành thị để kiếm việc làm, Chính phủ không thể kiểm soát nổi, gây nên tình trạng mất ổn định chính trị -xã hội.
Để ổn định tình hình chính trị - xã hội, Chính phủ Hàn Quốc buộc phải xem xét lại các chính sách kinh tế - xã hội của mình, cuối cùng đã phải chú ý đến việc điều chỉnh các chính sách về phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn và một chương trình phát triển nông nghiệp nông thôn được ra đời gồm 4 nội dung cơ bản: - Mở rộng hệ thống tín dụng nông thôn bằng cách tăng số tiền cho hộ nông dân vay. c 18 - Nhà nước thu mua ngũ cốc của nông dân với giá cao. - Thay giống lúa mới có năng suất cao. - Khuyến khích xây dựng cộng đồng mới ở nông thôn bằng việc thành lập các hợp tác xã sản xuất và các đội ngũ lao động để sửa chữa đường xá, cầu cống và nâng cấp nhà ở.
Với những nội dung này, Chính phủ Hàn Quốc đã phần nào giúp nhân dân có việc làm, ổn định cuộc sống, giảm bớt tình trạng di dân ra các thành phố lớn để kiếm việc làm. Chính sách này đã được thể hiện thông qua kế hoạch 10 năm cải tiến cơ cấu nông thôn nhằm cải tiến cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, từng bước đưa nền kinh tế phát triển nhằm xoá đói giảm nghèo cho dân chúng ở khu vực nông thôn. Hàn Quốc đã trở thành 1 nước công nghiệp phát triển nhưng Chính phủ vẫn coi trọng những chính sách có liên quan đến việc phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn nhằm xoá đói giảm nghèo cho dân chúng ở khu vực nông thôn, có như vậy mới xoá đói giảm nghèo cho nhân dân tạo thế ổn định và bền vững cho nền kinh tế [2]. Trung Quốc Ngay từ khi Đại Hội Đảng XII của Đảng cộng sản Trung Quốc năm 1984, Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện cải cách trên nhiều lĩnh vực.
Mục đích của nó là làm thay đổi các quan hệ chính trị, kinh tế ở nông thôn, giảm nhẹ gánh nặng về tài chính đã đè quá nặng lên những người nghèo khổ ở nông thôn trong nhiều năm qua, phục hồi ngành sản xuất nông nghiệp. Năm 1985 Đặng Tiểu Bình đã nói: “Sự nghiệp của chúng ta sẽ không có ý nghĩa gì nhiều nếu không có sự ổn định ở nông thôn”. Sau khi áp dụng một loạt các chính sách cải cách kinh tế ở khu vực nông thôn, Trung Quốc đã thu được những thành tựu đáng kể, đã tạo ra những thay đổi quan trọng trong thể chế chính trị, thay đổi về căn bản về cơ cấu kinh tế nông thôn, chuyển đổi c 19 phương thức quản lý, thay đổi căn bản phương thức phân phối, phân phối theo lao động đóng vai trò chính, và Trung Quốc đã thực hiện thành công việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Trong những năm Trung Quốc thực hiện chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường thì sự phân hoá giàu nghèo đã tăng lên rõ rệt trong xã hội.
Do chính sách mở cửa nền kinh tế, các thành phố lớn thì tập trung các nhà máy sản xuất công nghiệp, tuy có phát triển một số nhà máy công nghiệp ở một số vùng nông thôn, song vùng giàu có thì ngày càng giàu có, vùng nghèo đói thì vẫn nghèo đói nhất là vùng sâu, vùng xa. Để khắc phục tình trạng nghèo khổ cho khu vực nông thôn Chính phủ đã đưa ra một loạt các giải pháp cơ bản nhằm xoá đói giảm nghèo cho nhân dân, trong đó có các giải pháp về tập trung phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, xây dựng các vùng định canh, định cư, khu dân cư mới, chính sách này đã đem lại những thành công đáng kể cho nền kinh tế -xã hội Trung Quốc trong những năm qua [2]. Nhật Bản Nhật bản là quốc gia đất hẹp người đông, điều kiện phát triển kinh tế rất khó khăn, nghèo tài nguyên lại thường xuyên động đất,… Nhưng đặc điểm của người nhật bản là rất là rất hay làm việc, biết tiết kiệm và căn cơ, chỉ hơn 20 năm sau chiến tranh từ đống tro tàn đổi nát, Nhật Bản đã vương lên thành cường quốc về kinh tế, đời sống nhân dân tăng cao, tình trạng đói nghèo đã giảm xuống thấp. Hiện này 90% dân số Nhật Bản là tầng lớp trung lưu.
Có được thành quả như vậy là do Nhật Bản đã đưa ra kế hoạch và chính sách rất đúng đắn và thực hiện tích cực, góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân và xóa đói giảm nghèo bề vững. Nhật Bản đã áp dụng các giải pháp như: c 20 + Thực hiện quá trình dân chủ hóa sau chiến tranh, nhằm tạo lập một nền kinh tế thị trường bao gồm nhiều chủ thể có sự bình đẳng tương đối trong sản xuất kinh doanh, thực hiện dân chủ hóa lao động.