CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC CUNG ỨNG CÁC DỊCH VỤ XÃ HỘI CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG NHẬP CƯ 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu trong nước Khái niệm DVXH ở Việt Nam được xây dựng dựa trên sự kế thừa các tư tưởng, quan điểm về DVXH của các nhà khoa học trên thế giới. Các nhà khoa học mặc dù cùng quan điểm cho rằng DVXH là những dịch vụ cần thiết để phát triển con người, tuy nhiên, chưa có sự thống nhất về khái niệm này.
Nguyễn Thị Lan Hương (2010) trong “Đánh giá thực trạng DVXH đối với người lao động và nhóm yếu thế trong khung chính sách về an ASXH” cho rằng DVXH bao gồm 4 hợp phần chính: (i) Dịch vụ đáp ứng những nhu cầu vật chất cơ bản: việc ăn uống, vệ sinh, chăm sóc, nhà ở.mọi đối tượng yếu thế là trẻ em, người tàn tật mất khả năng lao động đều phải được đáp ứng nhu cầu này để phát triển về thể lực; (ii) Dịch vụ y tế: bao gồm các hình thức khám chữa bệnh, điều dưỡng phục hồi chức năng về thể chất cũng như tinh thần cho các đối tượng yếu thế; (iii) Dịch vụ giáo dục: trường học, các lớp tập huấn, đào tạo kỹ năng sống, các hình thức giáo dục hòa nhập, hội nhập và chuyên biệt. và (iv) Dịch vụ về giải trí, tham gia và thông tin: đây là loại hình DVXH rất quan trọng đối với các đối tượng thuộc nhóm công tác xã hội, hoạt động giải trí như văn nghệ, thể thao,. giúp đối tượng nâng cao sự tự tin, đẩy mạnh hòa nhập tốt hơn với cộng đồng, nâng cao sự hiểu biết, kiến thức cho đối tượng yếu thế. Cách hiểu về DVXH theo quan điểm nêu trên chỉ giới hạn cho những đối tượng yếu thế, nên chưa bao quát hết các đối tượng.
Trên thực tế, các DVXH là những dịch vụ mà tất cả mọi người dân đều được quyền tiếp cận và sử dụng. Tuy nhiên, tùy vào điều kiện kinh tế và vị thế xã hội mà người sử dụng quyết định lựa chọn các nhà cung ứng. Mai Ngọc Anh (2010) Viện Nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh 13 Dịch vụ xã hội cho người lao động nhập cư tại các khu chế xuất - khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay: thực trạng và giải pháp trong “Dịch vụ hướng nghiệp và giới thiệu việc làm cho các đối tượng tham gia vào thị trường lao động ở Việt Nam: Thực trạng và khuyến nghị” cho rằng DVXH bao gồm giáo dục; chăm sóc sức khỏe ban đầu và kế hoạch hóa gia đình (sức khỏe sinh sản, sức khỏe vị thành niên, kế hoạch hóa gia đình); cứu trợ thiên tai và cung cấp nước sạch sinh hoạt. Đối với Việt Nam, DVXH ngoài các nội dung nêu trên, còn bao gồm phúc lợi xã hội cho người nghèo, bảo trợ xã hội, dịch vụ việc làm và phổ cập nghề cho người lao động; cai nghiện và chữa trị cho đối tượng mại dâm,.
Tuy nhiên, cũng giống như cách hiểu của Nguyễn Thị Lan Hương, việc liệt kê các hợp phần của dịch vụ này là không hề đơn giản, và khả năng đáp ứng nhu cầu tối thiểu của tất cả các nhóm đối tượng khác nhau là điểu bất khả thi đối với mọi Chính phủ. Ingrid FitzGerald (2011) trong nghiên cứu về các DVXH phục vụ phát triển con người ở Việt Nam lại chỉ đề cập đến các vấn đề về y tế, giáo dục. Setsuko Yamazaki và Hoan Son Phuoc (2011) khi nghiên cứu về nghèo đói của người dân tộc thiểu số Việt Nam chỉ tập trung vào sự tiếp cận của người nghèo tới các vấn đề về y tế, giáo dục và hạ tầng cơ sở. Mai Ngọc Cường (2012) khi đề cập đến sự phối hợp giữa các chương trình ASXH với các chương trình cung cấp DVXH cơ bản lại chỉ giới hạn trong phạm vi y tế, giáo dục, và tiếp cận tới hệ thống nước sạch.
Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội - Ủy Ban dân tộc và Cơ quan Liên Hợp quốc tại Việt Nam (2009) trong đánh giá giữa kỳ chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo và chương trình 135II, giai đoạn 2006-2008 thì cho rằng: các DVXH mà mọi người phải được tiếp cận là y tế, giáo dục, nhà ở và nước sinh hoạt, trợ giúp pháp lý. Nghiên cứu về vai trò của nhà nước trong cung ứng DVXH cho người dân, Lê Chi Mai (2003) đã phân chia dịch vụ công cộng theo hình thức và nhu cầu về dịch vụ đó. Các loại dịch vụ công phục vụ nhu cầu chung thiết yếu của xã hội có thể phân chia thành DVXH và dịch vụ công ích. Theo đó: (i) DVXH Viện Nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh 14 Dịch vụ xã hội cho người lao động nhập cư tại các khu chế xuất - khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay: thực trạng và giải pháp liên quan đến những nhu cầu và quyền lợi cơ bản của sự phát triển con người về thể lực và trí lực như y tế, giáo dục, văn hóa thông tin, khoa học, thể thao; (ii) Dịch vụ công ích là loại dịch vụ gắn với các nhu cầu vật chất cho sinh hoạt và cơ sở hạ tầng kỹ thuật cơ bản như điện, nước, gas, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, vệ sinh môi trường, thủy lợi.
Từ những nghiên cứu về sự cần thiết đảm bảo vai trò nhà nước trong cung ứng dịch vụ công cộng, Lê Chi Mai đưa ra bốn cách thức mà nhà nước thực hiện để đảm bảo hiệu quả, hiệu lực trong cung cấp dịch vụ công cộng: (i) Nhà nước sử dụng các quy chế để điều tiết và kiểm soát các doanh nghiệp và các tổ chức tư nhân trong việc cung ứng dịch vụ công cộng theo yêu cầu của nhà nước. Chẳng hạn như chính phủ cho phép các doanh nghiệp tư nhân cung ứng điện, nước,. cho nhân dân, song sử dụng những quy chế bắt buộc đối với các doanh nghiệp này, như đòi hỏi doanh nghiệp phải cung cấp điện cho những vùng xa xôi, hẻo lánh, điều tiết mức giá cung ứng điện và nước; (ii) Nhà nước sử dụng biện pháp miễn giảm thuế hoặc trợ cấp cho những doanh nghiệp tư nhân nào cung ứng các dịch vụ công. Ở đây, nhà nước dùng biện pháp miễn thuế hoặc trợ cấp với mục tiêu là một phần lợi ích này sẽ được chuyển lại cho người tiêu dùng qua mức giá thấp hơn.
Đảm bảo cung ứng một số dịch vụ công cộng cần thiết cho xã hội, như quét dọn vệ sinh, thu gom rác thải, nhà nước có thể trợ cấp cho các tổ chức tư nhân trong hoạt động này và có thể miễn thuế cho những doanh nghiệp tư nhân cung ứng nước sạch cho các vùng nông thôn, hoặc phạt hay bắt đóng thuế cao đối với những doanh nghiệp gây tác hại cho xã hội như làm ô nhiễm không khí, nguồn nước; (iii) Nhà nước trợ cấp cho người tiêu dùng qua thuế hoặc trợ cấp trực tiếp. Ví dụ như trợ cấp tiền cho hộ gia đình nghèo nếu cho con đến trường theo học, trợ cấp người bệnh qua giá bán thuốc thấp ở những bệnh viện công; và, (iv) Cho phép tư nhân cung ứng dịch vụ công dưới dự điều tiết của nhà nước để bảo đảm cho các tư nhân này hoạt động theo đúng hướng mong muốn. Nhà nước cũng có thể dùng biện pháp khác như ký hợp đồng trực tiếp với các doanh nghiệp tư nhân để mua lại các dịch vụ đó và Viện Nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh 15 Dịch vụ xã hội cho người lao động nhập cư tại các khu chế xuất - khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay: thực trạng và giải pháp giữ quyền phân phối dịch vụ, hoặc nhà nước ký hợp đồng với các doanh nghiệp tư nhân và để cho doanh nghiệp tự cung ứng các dịch vụ theo các điều khoản nhất định. Trong những năm gần đây, vấn đề DVXH đối với người lao động nhập cư ở thành thị, hay tại các KCX-KCN nói riêng cũng được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến.
Các công trình nghiên cứu này chủ yếu đề cập đến đời sống của người công nhân còn thấp, nhất là với nhóm lao động nhập cư; tập trung phân tích những DVXH mà nhóm lao động nhập cư còn chưa được tiếp cận đầy đủ như: dịch vụ nhà ở và các phương tiện sinh hoạt hàng ngày; dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe; dịch vụ văn hóa, thể thao, vui chơi, giải trí; dịch vụ nhà trẻ, trường học cho người lao động. Về vấn đề nhà ở: Đây là vấn đề tồn tại nhiều khó khăn và vướng mắc khó tháo gỡ trong nhiều năm qua, nhất là đối với lao động nhập cư ngoại tỉnh. Nhà ở đi kèm theo là những dịch vụ khác liên quan đến chất lượng cuộc sống của người lao động nhập cư như nước sạch, vệ sinh môi trường… Nghiên cứu “Thực trạng của đội ngũ công nhân TP.HCM và giải pháp phát huy vai trò của đội ngũ này trong giai đoạn hiện nay” do PGS.TS Nguyễn Đăng Thành làm chủ nhiệm, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là cơ quan chủ trì năm 2007 cho biết dù Thành phố có nhiều nỗ lực về việc giải quyết nhà ở cho công nhân như trong 5 năm (2001-2005) ở TP.585 công nhân gặp hoàn cảnh khó khăn được hỗ trợ hơn 124 tỷ đồng để cải thiện về nhà ở (sửa chữa hoặc mua nhà). Riêng Liên đoàn Lao động Thành phố đã tiến hành quy hoạch, hoàn chỉnh hạ tầng kỹ thuật bàn giao nền nhà cho 896 công nhân, viên chức, người lao động.
Đối với vấn đề nhà ở cho lao động ngoại tỉnh, ngoài khu nhà do Liên đoàn Lao động Thành phố xây dựng năm 1999, đến thời điểm nghiên cứu đã có 41 doanh nghiệp triển khai thực hiện, trong đó có cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ở Bình Chiểu xây dựng khu nhà có Viện Nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh 16 Dịch vụ xã hội cho người lao động nhập cư tại các khu chế xuất - khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay: thực trạng và giải pháp sức chứa 600 người.HCM đã xây dựng, thực hiện một “Chương trình nhà ở”, trong đó có nhà ở cho công nhân. UBND Thành phố cũng tăng cường chỉ đạo xây dựng đề án xây dựng nhà lưu trú cho công nhân (NLTCN) các KCX- KCN cũng như xây dựng nhà ở cho đối tượng có thu nhập thấp. nhưng những nỗ lực trên chưa đáp ứng được nhu cầu về nhà ở của công nhân. Khảo sát của Trung tâm nghiên cứu đô thị và cộng đồng (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM) cho thấy ở TP.