Thực trạng tiếp cận dịch vụ nhà ở của thanh niên di cư tại phường Hạ Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội

Luận văn thạc sĩ phân tích ussh thực trạng tiếp cận dịch vụ nhà ở của thanh niên di cư hiện nay nghiên cứu tại phường hạ đình, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Chuyên ngành

Xã Hội Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

131
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU

1.1. Các khái niệm công cụ

1.2. Các lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu

1.3. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ NHÀ Ở VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC TIẾP CẬN DỊCH VỤ NHÀ Ở CỦA THANH NIÊN DI CƯ TẠI PHƯỜNG HẠ ĐÌNH, THANH XUÂN, HÀ NỘI

2.1. Chân dung xã hội của thanh niên di cư tại Phường Hạ Đình, Thanh Xuân, Hà Nội

2.1.1. Đặc điểm về độ tuổi

2.1.2. Đặc điểm về tình trạng hôn nhân

2.1.3. Đặc điểm về giới tính

2.1.4. Đặc điểm về trình độ học vấn và chuyên môn

2.1.5. Đặc điểm về thời điểm di cư và mục đích di cư

2.2. Hoạt động tiếp cận dịch vụ nhà ở của thanh niên di cư tại phường Hạ Đình, Thanh Xuân, Hà Nội

2.2.1. Các loại hình nhà ở của các nhóm thanh niên di cư

2.2.2. Các đặc điểm về nhà ở hiện tại của thanh niên di cư tại Phường Hạ Đình, Thanh Xuân, Hà Nội

2.2.3. Đặc điểm về tiện nghi, chi phí nhà ở

2.2.4. Đặc điểm về vị trí nhà ở

2.2.5. Nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn nhà ở của thanh niên di cư

2.2.6. Mức độ hài lòng về cuộc sống của thanh niên di cư hiện nay

3. CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG NHÀ Ở CỦA THANH NIÊN DI CƯ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỚI CHÍNH SÁCH NHÀ Ở ĐÔ THỊ HIỆN NAY

3.1. Chính sách nhà ở cho người di cư và một số vấn đề đặt ra

3.2. Đề xuất giải pháp

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC BẢNG

Tóm tắt

I. Tổng quan về thực trạng nhà ở của thanh niên di cư tại Hạ Đình

Nghiên cứu về thực trạng nhà ở của thanh niên di cư tại Hạ Đình, Thanh Xuân, Hà Nội, là một vấn đề cấp thiết trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng. Thanh niên di cư thường phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc tiếp cận dịch vụ nhà ở. Theo số liệu thống kê, phần lớn thanh niên di cư phải thuê nhà, trong khi chỉ một tỷ lệ nhỏ có khả năng mua nhà. Điều này dẫn đến nhiều vấn đề về chất lượng cuộc sống và an sinh xã hội.

1.1. Đặc điểm xã hội của thanh niên di cư tại Hạ Đình

Thanh niên di cư tại Hạ Đình chủ yếu là những người trẻ tuổi, có trình độ học vấn đa dạng. Họ thường di cư từ các vùng nông thôn đến thành phố lớn để tìm kiếm cơ hội việc làm. Đặc điểm này ảnh hưởng lớn đến khả năng tiếp cận dịch vụ nhà ở và các dịch vụ xã hội khác.

1.2. Tình hình nhà ở của thanh niên di cư tại Hạ Đình

Nhiều thanh niên di cư sống trong các căn phòng trọ chật chội, thiếu tiện nghi. Chi phí thuê nhà cao, chiếm một phần lớn thu nhập của họ. Điều này tạo ra áp lực tài chính lớn và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của họ.

II. Vấn đề và thách thức trong tiếp cận dịch vụ nhà ở của thanh niên di cư

Mặc dù có nhiều cơ hội việc làm tại Hạ Đình, nhưng thanh niên di cư vẫn gặp phải nhiều thách thức trong việc tiếp cận dịch vụ nhà ở. Các vấn đề như chi phí cao, chất lượng nhà ở kém và thiếu sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương là những rào cản lớn.

2.1. Chi phí và chất lượng nhà ở

Chi phí thuê nhà tại Hạ Đình thường cao hơn so với mức thu nhập của thanh niên di cư. Nhiều người phải sống trong các căn phòng trọ không đảm bảo an toàn và vệ sinh. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn đến tâm lý của họ.

2.2. Thiếu sự hỗ trợ từ chính quyền

Chính quyền địa phương chưa có nhiều chính sách hỗ trợ cho thanh niên di cư trong việc tiếp cận dịch vụ nhà ở. Hầu hết thanh niên di cư phải tự mình giải quyết các vấn đề liên quan đến nhà ở mà không có sự can thiệp từ các tổ chức xã hội.

III. Phương pháp nghiên cứu thực trạng dịch vụ nhà ở cho thanh niên di cư

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp khảo sát và phỏng vấn sâu để thu thập dữ liệu về thực trạng nhà ở của thanh niên di cư tại Hạ Đình. Phương pháp này giúp hiểu rõ hơn về nhu cầu và mong muốn của họ trong việc tiếp cận dịch vụ nhà ở.

3.1. Khảo sát và phỏng vấn

Khảo sát được thực hiện trên một mẫu thanh niên di cư tại Hạ Đình, nhằm thu thập thông tin về tình hình nhà ở, thu nhập và mức độ hài lòng với cuộc sống. Phỏng vấn sâu giúp làm rõ hơn những khó khăn mà họ gặp phải.

3.2. Phân tích dữ liệu

Dữ liệu thu thập được sẽ được phân tích để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận dịch vụ nhà ở của thanh niên di cư. Phân tích này sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về thực trạng và các vấn đề cần giải quyết.

IV. Kết quả nghiên cứu về dịch vụ nhà ở cho thanh niên di cư

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng thanh niên di cư tại Hạ Đình gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ nhà ở. Họ thường phải sống trong điều kiện không đảm bảo và chi phí cao. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và khả năng tích lũy tài chính của họ.

4.1. Mức độ hài lòng về nhà ở

Hầu hết thanh niên di cư không hài lòng với điều kiện nhà ở hiện tại. Họ mong muốn có một nơi ở an toàn, tiện nghi và giá cả hợp lý. Điều này cho thấy nhu cầu cấp thiết về cải thiện dịch vụ nhà ở.

4.2. Đề xuất giải pháp cải thiện dịch vụ nhà ở

Cần có các chính sách hỗ trợ từ chính quyền địa phương để cải thiện dịch vụ nhà ở cho thanh niên di cư. Các giải pháp như xây dựng nhà ở giá rẻ, hỗ trợ tài chính và cải thiện cơ sở hạ tầng là rất cần thiết.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho dịch vụ nhà ở của thanh niên di cư

Nghiên cứu về thực trạng nhà ở của thanh niên di cư tại Hạ Đình cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Cần có sự hợp tác giữa các cơ quan chức năng và cộng đồng để cải thiện điều kiện sống cho thanh niên di cư.

5.1. Tầm quan trọng của chính sách nhà ở

Chính sách nhà ở cần được điều chỉnh để phù hợp với nhu cầu của thanh niên di cư. Việc xây dựng các chương trình hỗ trợ sẽ giúp họ có cơ hội tiếp cận nhà ở tốt hơn.

5.2. Tương lai của dịch vụ nhà ở cho thanh niên di cư

Tương lai của dịch vụ nhà ở cho thanh niên di cư phụ thuộc vào sự quan tâm và đầu tư từ chính quyền và xã hội. Cần có những giải pháp bền vững để đảm bảo quyền lợi cho nhóm đối tượng này.

19/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, sự phát triển nhanh của các thành phố lớn đã thu hút một số lượng lớn lao động, nhất là lao động ở nông thôn ra làm việc. Trong số lao động nông thôn di cư, thanh niên di cư là một bộ phận không thể không nhắc tới. Thanh niên di cư thường là những người thuộc nhóm tuổi lao động, thường muốn tìm một công việc có thu nhập cao hơn nghề nông nghiệp để đủ chi trả cho cuộc sống hằng ngày, điều này dẫn đến thanh niên nông thôn di cư là một xu hướng tất yếu. Xu hướng này sẽ mở rộng cả về đối tượng và địa bàn.

Thanh niên di cư không chỉ góp một phần vào tăng trưởng triển kinh tế tại nơi đến, mà còn cả vào nền kinh tế của Đất nước. Bên cạnh đó thanh niên di cư chính là một cách để làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng chỉ số GDP,… Thanh niên di cư từ nông thôn ra thành thị sẽ đối mặt với rất nhiều vấn đề về công việc, đời sống vật chất cũng như tinh thần,… Do đó, nghiên cứu về đời sống của thanh niên di cư, nơi đi và nơi đến của thanh niên di cư, nguyên nhân di cư của thanh niên di cư. là cần thiết. Chúng ta đều biết con người đều có những nhu cầu cơ bản như ăn, mặc, ở, đi lại, giải trí, khám chữa bệnh,…nhưng những điều kiện cơ bản này lại là nỗi quan tâm của rất nhiều thanh niên di cư.

Đặc biệt là vấn đề về nhà ở của thanh niên di cư. Số liệu thống kê Điều tra di cư nội địa quốc gia năm 2015 cũng cho thấy đa số người di cư là thanh niên. Các dòng di cư chủ yếu hướng tới các khu vực thành thị: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng,… và các khu công nghiệp nơi có nhiều cơ hội việc làm: Bình Dương, Biên Hòa, Bắc Ninh,.

Chính điều này dẫn tới sự tăng dân số ở khu vực thành thị với tỷ lệ tăng dân số hàng năm lên tới 3,4% so với mức tăng dân số ở khu vực nông thôn là 0,4%. Về vấn đề nhà ở, có tới 86,3% lao động di cư phải thuê nhà ở và chỉ có 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2,9% đã mua được nhà. Tiền thuê nhà, điện nước sinh hoạt chiếm tới 23% thu nhập của người lao động. Đặc biệt, hơn 85% lao động di cư phải trả tiền điện, nước sinh hoạt theo giá của chủ nhà và cao gấp 2-3 lần giá theo quy định.

Chính vì những khó khăn về nhà ở, tích lũy hạn chế khiến đại đa số lao động di cư không có định hướng lâu dài cho công việc của họ, gần 60% lao động di cư không biết dự định sẽ sinh sống ở địa phương nơi làm việc trong bao lâu và chỉ có 7,5% lao động quyết định sẽ định cư hẳn. Cũng theo công bố, rất ít lao động nhận được sự hỗ trợ từ các tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước để khắc phục khó khăn khi di cư. Có tới 67,1% người lao động tự khắc phục khó khăn; 18,5% nhờ bạn bè, đồng hương giúp đỡ và 15,7% nhờ họ hàng (Tổng cục thống kê, Tổng điều tra dân số và nhà ở giữa kì năm 2014, 2015). Tất cả các vấn đề trên hoàn toàn trái ngược với mong muốn của thanh niên di cư.

Mặt khác, bản thân cơ sở hạ tầng cùng các dịch vụ cơ bản cho người dân đô thị như y tế, giáo dục, nhà ở, vệ sinh môi trường,…cũng đang trong tình trạng quá tải. Các chính sách quản lý về các lĩnh vực này còn nhiều bất cập. Trong bối cảnh đó, thanh niên di cư gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống cụ thể là về nhà ở. Vậy thực trạng về dịch vụ nhà ở của thanh niên di cư là như thế nào?, Mong muốn của họ như thế nào về vấn đề nhà ở ?, Hướng giải quyết ra sao?,… Phường Hạ Đình được thành lập theo Nghị định 74/NĐ-CP ngày 22/11/1996 của Chính Phủ, trên cơ sở tách ra từ xã Khương Đình - huyện Thanh Trì, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 07/01/1997, có diện tích tự nhiên 70,7 ha; phường có 8 khu dân cư với 16 tổ dân phố.

Dân số trên 17. Xuất phát điểm là 1 xã thuần nông, nằm ở phía Tây nam Thành phố Hà Nội, có dòng sông Tô Lịch chảy qua, phía đông giáp phường Khương 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đình, phía tây giáp phường Thanh Xuân Trung, phía nam giáp phường Kim Giang, Thanh Xuân Nam, phía bắc giáp phường Thượng Đình. Hiện nay trên xung quanh địa bàn phường có các trường Đại học lớn: Đại học KHXH&NV, Đại học Khoa học Tự Nhiên,. ngoài ra còn có các nhà máy sản xuất: Công ty CP giày Thượng Đình, Công ty CP Bóng đèn Phích Nước Rạng Đông.Vì vậy số người đến công tác, lao động, học tập và cư trú thường từ 3-4 nghìn người (UBND Phường Hạ Đình, 2018).

Đây là điều kiện lý tưởng thu hút một lượng lao động đông đảo các lao động ở nơi các tới làm việc. Với các đặc điểm trên rất phù hợp với việc nghiên cứu của đề tài để làm rõ những câu hỏi trên, tác giả đã lựa chọn đề nghiên cứu: “Thực trang tiếp cận dịch vụ nhà ở của thanh niên di cƣ hiện nay” nghiên cứu tại Phƣờng Hạ Đình- Quận Thanh Xuân- Hà Nội. Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài: Nghiên cứu về người di cư thực sự đã trở thành một trong những đối tượng nghiên cứu mang tính thời sự của khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt trong xã hội học. Sự di cư diễn ra ngày càng phức tạp cộng với tính dễ bị tổn thương đang k o theo nhiều vấn đề như môi trường việc làm, thất nghiệp cũng như vấn đề an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, vấn đề trợ giúp pháp lý…Gần đây đã có nhiều nghiên cứu về di cư nhằm tìm hiểu thực trạng cũng như ảnh hưởng của quá trình di cư đến việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người di cư tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng…  Hƣớng nghiên cứu về Thực trạng của ngƣời di cƣ : Di cư là vấn đề xã hội có ở nhiều nước trên thế giới, do đó đã trở thành chủ đề nghiên cứu của nhiều nước.

Các nghiên cứu của các nước đều khẳng định di cư là hiện tượng xã hội có từ lâu đời và hiện tượng đó càng phát triển trong thời kỳ CNH, HĐH. Di cư vừa có tác dụng tích cực đối với sự phát triển 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kinh tế-xã hội, vừa có những tác động tiêu cực như: vi phạm pháp luật, vệ sinh môi trường. Tại Việt Nam dân số di cư giữa các tỉnh có xu hướng ngày càng gia tăng rõ rệt. Từ 1,3 triệu người năm 1989 lên 2 triệu người năm 1999 và lên tới 3,4 triệu người năm 2009.

Tỷ trọng di cư trong tổng dân số cũng tăng tương ứng từ 2,5% trong năm 1989 lên 2,9% năm 1999 và 4,3% năm 2009. Trong khi tỷ lệ tăng hàng năm của dân không di cư giảm 2,4% trong giai đoạn 1989-1999 xuống 1,1% trong giai đoạn 1999-2009. Tỷ lệ tăng hàng năm của dân di cư giữa các huyện tăng từ 0,6% lên 4,2% và tỷ lệ này trong nhóm dân di cư giữa các tỉnh từ 4,0% lên 5,4% (Tổng cục Thống kê, Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, 2010) Năm 2004, trong cuốn “Di dân tự do đến Hà Nội - thực trạng và giải pháp quản lý” Hoàng Văn Chức đã trình bày quan niệm chung về di cư, ảnh hưởng của di dân đến phát triển kinh tế- xã hội, quản lý nhà nước về di dân, kinh nghiệm quản lý di dân. Cuốn sách đã làm rõ thực trạng di dân tự do đến Hà Nội, quản lý nhà nước đối với những nguời di cư tự do đến Hà Nội và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về di dân tự do đến Hà Nội.

Về thực trạng di dân tự do đến Hà Nội, sách đã chỉ rõ: từ năm 1990 đến nay dân số Hà Nội tăng nhanh hơn so với thời kì trước, chủ yếu tăng dân số cơ học, địa bàn của người di cư vào Hà Nội thường theo các trực đường từ ngoại thành vào trung tâm(Mai Động, Giáp Bát, Phúc Tân, Thanh Xuân) (Hoàng Văn Chức, 2004) (Văn Toàn, 2010) trong “Dịch vụ xã hội cho người nhập cư ở Hà Nội” đã chỉ ra cùng với khó khăn do thu nhập thấp, người nhập cư ở đô thị có rất ít khả năng và cơ hội đến được với hệ thống các dịch vụ xã hội cơ bản. Các vấn đề xã hội nảy sinh do nhiều nguyên nhân, trong đó có mối quan hệ giữa hộ khẩu và việc tiếp cận các dịch vụ xã hội đối với người nhập cư. Người lao 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động nhập cư thường phải trả tiền cho các dịch vụ xã hội cơ bản với mức chi phí khá cao: Nhà ở, tiền điện, dịch vụ y tế, giáo dục, vệ sinh môi trường…Bài viết đã chỉ ra thực trạng đời sống cũng như những khó khăn mà người nhập cư tự do hiện nay đang gặp phải. Tuy nhiên, bài viết chưa đi vào đánh giá từng dịch vụ xã hội cơ bản,và chưa chỉ ra những rào cản khiến người nhập cư không tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản như những người dân bản địa.

Kết quả sơ bộ từ Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2009 mới công bố đã cho thấy, tốc độ di dân và nhập cư giữa các vùng kinh tế - xã hội của đất nước đã có những thay đổi lớn so với 10 năm trước đây. Do tốc độ di dân và quá trình đô thị hóa, hai vùng Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long có tới 43% dân số của cả nước sinh sống. Số liệu cũng cho thấy, Đông Nam bộ là vùng có tỷ lệ tăng dân số cao nhất với 3,2%/năm; Tây Nguyên là vùng có tỷ lệ nhập cư rất cao, do vậy dân số đã tăng nhanh với tỷ lệ bình quân 2,3%/năm. Về tình trạng di cư ra nước ngoài, theo Báo cáo phát triển con người 2009 do Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) công bố, Việt Nam có tỷ lệ dân di cư là 2,4%.

Lục địa mà phần lớn người Việt di cư tới là Bắc Mỹ và hiện có 57,4% dân di cư Việt Nam đang sống ở đó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ