Đặt vấn đề Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, sự phát triển nhanh của các thành phố lớn đã thu hút một số lượng lớn lao động, nhất là lao động ở nông thôn ra làm việc. Trong số lao động nông thôn di cư, thanh niên di cư là một bộ phận không thể không nhắc tới. Thanh niên di cư thường là những người thuộc nhóm tuổi lao động, thường muốn tìm một công việc có thu nhập cao hơn nghề nông nghiệp để đủ chi trả cho cuộc sống hằng ngày, điều này dẫn đến thanh niên nông thôn di cư là một xu hướng tất yếu. Xu hướng này sẽ mở rộng cả về đối tượng và địa bàn.
Thanh niên di cư không chỉ góp một phần vào tăng trưởng triển kinh tế tại nơi đến, mà còn cả vào nền kinh tế của Đất nước. Bên cạnh đó thanh niên di cư chính là một cách để làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng chỉ số GDP,… Thanh niên di cư từ nông thôn ra thành thị sẽ đối mặt với rất nhiều vấn đề về công việc, đời sống vật chất cũng như tinh thần,… Do đó, nghiên cứu về đời sống của thanh niên di cư, nơi đi và nơi đến của thanh niên di cư, nguyên nhân di cư của thanh niên di cư. là cần thiết. Chúng ta đều biết con người đều có những nhu cầu cơ bản như ăn, mặc, ở, đi lại, giải trí, khám chữa bệnh,…nhưng những điều kiện cơ bản này lại là nỗi quan tâm của rất nhiều thanh niên di cư.
Đặc biệt là vấn đề về nhà ở của thanh niên di cư. Số liệu thống kê Điều tra di cư nội địa quốc gia năm 2015 cũng cho thấy đa số người di cư là thanh niên. Các dòng di cư chủ yếu hướng tới các khu vực thành thị: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng,… và các khu công nghiệp nơi có nhiều cơ hội việc làm: Bình Dương, Biên Hòa, Bắc Ninh,.
Chính điều này dẫn tới sự tăng dân số ở khu vực thành thị với tỷ lệ tăng dân số hàng năm lên tới 3,4% so với mức tăng dân số ở khu vực nông thôn là 0,4%. Về vấn đề nhà ở, có tới 86,3% lao động di cư phải thuê nhà ở và chỉ có 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2,9% đã mua được nhà. Tiền thuê nhà, điện nước sinh hoạt chiếm tới 23% thu nhập của người lao động. Đặc biệt, hơn 85% lao động di cư phải trả tiền điện, nước sinh hoạt theo giá của chủ nhà và cao gấp 2-3 lần giá theo quy định.
Chính vì những khó khăn về nhà ở, tích lũy hạn chế khiến đại đa số lao động di cư không có định hướng lâu dài cho công việc của họ, gần 60% lao động di cư không biết dự định sẽ sinh sống ở địa phương nơi làm việc trong bao lâu và chỉ có 7,5% lao động quyết định sẽ định cư hẳn. Cũng theo công bố, rất ít lao động nhận được sự hỗ trợ từ các tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước để khắc phục khó khăn khi di cư. Có tới 67,1% người lao động tự khắc phục khó khăn; 18,5% nhờ bạn bè, đồng hương giúp đỡ và 15,7% nhờ họ hàng (Tổng cục thống kê, Tổng điều tra dân số và nhà ở giữa kì năm 2014, 2015). Tất cả các vấn đề trên hoàn toàn trái ngược với mong muốn của thanh niên di cư.
Mặt khác, bản thân cơ sở hạ tầng cùng các dịch vụ cơ bản cho người dân đô thị như y tế, giáo dục, nhà ở, vệ sinh môi trường,…cũng đang trong tình trạng quá tải. Các chính sách quản lý về các lĩnh vực này còn nhiều bất cập. Trong bối cảnh đó, thanh niên di cư gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống cụ thể là về nhà ở. Vậy thực trạng về dịch vụ nhà ở của thanh niên di cư là như thế nào?, Mong muốn của họ như thế nào về vấn đề nhà ở ?, Hướng giải quyết ra sao?,… Phường Hạ Đình được thành lập theo Nghị định 74/NĐ-CP ngày 22/11/1996 của Chính Phủ, trên cơ sở tách ra từ xã Khương Đình - huyện Thanh Trì, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 07/01/1997, có diện tích tự nhiên 70,7 ha; phường có 8 khu dân cư với 16 tổ dân phố.
Dân số trên 17. Xuất phát điểm là 1 xã thuần nông, nằm ở phía Tây nam Thành phố Hà Nội, có dòng sông Tô Lịch chảy qua, phía đông giáp phường Khương 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đình, phía tây giáp phường Thanh Xuân Trung, phía nam giáp phường Kim Giang, Thanh Xuân Nam, phía bắc giáp phường Thượng Đình. Hiện nay trên xung quanh địa bàn phường có các trường Đại học lớn: Đại học KHXH&NV, Đại học Khoa học Tự Nhiên,. ngoài ra còn có các nhà máy sản xuất: Công ty CP giày Thượng Đình, Công ty CP Bóng đèn Phích Nước Rạng Đông.Vì vậy số người đến công tác, lao động, học tập và cư trú thường từ 3-4 nghìn người (UBND Phường Hạ Đình, 2018).
Đây là điều kiện lý tưởng thu hút một lượng lao động đông đảo các lao động ở nơi các tới làm việc. Với các đặc điểm trên rất phù hợp với việc nghiên cứu của đề tài để làm rõ những câu hỏi trên, tác giả đã lựa chọn đề nghiên cứu: “Thực trang tiếp cận dịch vụ nhà ở của thanh niên di cƣ hiện nay” nghiên cứu tại Phƣờng Hạ Đình- Quận Thanh Xuân- Hà Nội. Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài: Nghiên cứu về người di cư thực sự đã trở thành một trong những đối tượng nghiên cứu mang tính thời sự của khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt trong xã hội học. Sự di cư diễn ra ngày càng phức tạp cộng với tính dễ bị tổn thương đang k o theo nhiều vấn đề như môi trường việc làm, thất nghiệp cũng như vấn đề an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, vấn đề trợ giúp pháp lý…Gần đây đã có nhiều nghiên cứu về di cư nhằm tìm hiểu thực trạng cũng như ảnh hưởng của quá trình di cư đến việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người di cư tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng… Hƣớng nghiên cứu về Thực trạng của ngƣời di cƣ : Di cư là vấn đề xã hội có ở nhiều nước trên thế giới, do đó đã trở thành chủ đề nghiên cứu của nhiều nước.
Các nghiên cứu của các nước đều khẳng định di cư là hiện tượng xã hội có từ lâu đời và hiện tượng đó càng phát triển trong thời kỳ CNH, HĐH. Di cư vừa có tác dụng tích cực đối với sự phát triển 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kinh tế-xã hội, vừa có những tác động tiêu cực như: vi phạm pháp luật, vệ sinh môi trường. Tại Việt Nam dân số di cư giữa các tỉnh có xu hướng ngày càng gia tăng rõ rệt. Từ 1,3 triệu người năm 1989 lên 2 triệu người năm 1999 và lên tới 3,4 triệu người năm 2009.
Tỷ trọng di cư trong tổng dân số cũng tăng tương ứng từ 2,5% trong năm 1989 lên 2,9% năm 1999 và 4,3% năm 2009. Trong khi tỷ lệ tăng hàng năm của dân không di cư giảm 2,4% trong giai đoạn 1989-1999 xuống 1,1% trong giai đoạn 1999-2009. Tỷ lệ tăng hàng năm của dân di cư giữa các huyện tăng từ 0,6% lên 4,2% và tỷ lệ này trong nhóm dân di cư giữa các tỉnh từ 4,0% lên 5,4% (Tổng cục Thống kê, Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, 2010) Năm 2004, trong cuốn “Di dân tự do đến Hà Nội - thực trạng và giải pháp quản lý” Hoàng Văn Chức đã trình bày quan niệm chung về di cư, ảnh hưởng của di dân đến phát triển kinh tế- xã hội, quản lý nhà nước về di dân, kinh nghiệm quản lý di dân. Cuốn sách đã làm rõ thực trạng di dân tự do đến Hà Nội, quản lý nhà nước đối với những nguời di cư tự do đến Hà Nội và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về di dân tự do đến Hà Nội.
Về thực trạng di dân tự do đến Hà Nội, sách đã chỉ rõ: từ năm 1990 đến nay dân số Hà Nội tăng nhanh hơn so với thời kì trước, chủ yếu tăng dân số cơ học, địa bàn của người di cư vào Hà Nội thường theo các trực đường từ ngoại thành vào trung tâm(Mai Động, Giáp Bát, Phúc Tân, Thanh Xuân) (Hoàng Văn Chức, 2004) (Văn Toàn, 2010) trong “Dịch vụ xã hội cho người nhập cư ở Hà Nội” đã chỉ ra cùng với khó khăn do thu nhập thấp, người nhập cư ở đô thị có rất ít khả năng và cơ hội đến được với hệ thống các dịch vụ xã hội cơ bản. Các vấn đề xã hội nảy sinh do nhiều nguyên nhân, trong đó có mối quan hệ giữa hộ khẩu và việc tiếp cận các dịch vụ xã hội đối với người nhập cư. Người lao 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động nhập cư thường phải trả tiền cho các dịch vụ xã hội cơ bản với mức chi phí khá cao: Nhà ở, tiền điện, dịch vụ y tế, giáo dục, vệ sinh môi trường…Bài viết đã chỉ ra thực trạng đời sống cũng như những khó khăn mà người nhập cư tự do hiện nay đang gặp phải. Tuy nhiên, bài viết chưa đi vào đánh giá từng dịch vụ xã hội cơ bản,và chưa chỉ ra những rào cản khiến người nhập cư không tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản như những người dân bản địa.
Kết quả sơ bộ từ Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2009 mới công bố đã cho thấy, tốc độ di dân và nhập cư giữa các vùng kinh tế - xã hội của đất nước đã có những thay đổi lớn so với 10 năm trước đây. Do tốc độ di dân và quá trình đô thị hóa, hai vùng Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long có tới 43% dân số của cả nước sinh sống. Số liệu cũng cho thấy, Đông Nam bộ là vùng có tỷ lệ tăng dân số cao nhất với 3,2%/năm; Tây Nguyên là vùng có tỷ lệ nhập cư rất cao, do vậy dân số đã tăng nhanh với tỷ lệ bình quân 2,3%/năm. Về tình trạng di cư ra nước ngoài, theo Báo cáo phát triển con người 2009 do Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) công bố, Việt Nam có tỷ lệ dân di cư là 2,4%.
Lục địa mà phần lớn người Việt di cư tới là Bắc Mỹ và hiện có 57,4% dân di cư Việt Nam đang sống ở đó.