Nghiên cứu thực trạng, đề xuất giải pháp quản lý thực vật xâm hại Văn Quan, Lạng Sơn

Bài viết phân tích thực trạng thực vật xâm hại tại Văn Quan, Lạng Sơn, đưa ra các giải pháp hiệu quả nhằm quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học địa phương.

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Chuyên ngành

Khoa học môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

115
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về thực vật xâm hại tại huyện Văn Quan Lạng Sơn

Huyện Văn Quan nằm ở phía nam tỉnh Lạng Sơn, thuộc vùng núi Đông Bắc Việt Nam. Khu vực này có diện tích đất lâm nghiệp lớn, khí hậu nhiệt đới gió mùa đặc trưng. Đây là điều kiện thuận lợi cho nhiều loài thực vật ngoại lai sinh trưởng và phát triển mạnh. Thực vật xâm hại là các loài thực vật ngoại lai có khả năng lấn ác thực vật bản địa. Chúng gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho hệ sinh thái tự nhiên. Tình trạng xâm hại ngày càng phức tạp tại các khu rừng trồng, nương rẫy bỏ hoang và vùng đất trống. Nghiên cứu thực trạng quản lý thực vật xâm hại Văn Quan Lạng Sơn cho thấy sự cần thiết phải có giải pháp tổng hợp. Các loài thực vật xâm hại ảnh hưởng trực tiếp đến đa dạng sinh học. Chúng cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng với cây trồng bản địa. Tình hình biến đổi khí hậu càng làm tăng nguy cơ lây lan của các loài này. Công tác quản lý hiện nay面临着 nhiều thách thức lớn.

1.1. Khái niệm thực vật xâm hại và đặc điểm nhận dạng

Thực vật xâm hại là các loài thực vật ngoại lai được đưa vào khu vực mới ngoài phạm vi phân bố tự nhiên. Chúng có khả năng sinh trưởng nhanh, sinh sản mạnh và lấn ác thực vật bản địa. Các loài này thường có đặc điểm chung như chịu hạn tốt, phát tán hạt giống xa nhờ gió hoặc động vật. Chúng cạnh tranh gay gắt về nguồn sống với các loài bản địa. Thực vật xâm hại gây mất cân bằng hệ sinh thái tự nhiên. Tại huyện Văn Quan, các loài thực vật xâm hại xuất hiện phổ biến ở vùng đất trống, đồi trọc, ven đường và khu rừng trồng mới.

1.2. Bối cảnh tự nhiên và kinh tế xã hội huyện Văn Quan

Huyện Văn Quan có địa hình đồi núi chia cắt, độ cao trung bình từ 200-500m so với mực nước biển. Khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm. Diện tích đất lâm nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng diện tích tự nhiên. Kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp và lâm nghiệp. Hoạt động du canh, phá rừng làm nương rẫy diễn ra phổ biến. Tình trạng đất trống đồi trọc tạo điều kiện cho thực vật xâm hại xâm chiếm. Nhận thức của người dân về tác hại của thực vật xâm hại còn hạn chế. Công tác quản lý gặp khó khăn do thiếu nguồn lực và nhân lực chuyên trách.

II. Phân tích 12 loài thực vật xâm hại phổ biến tại Văn Quan

Nghiên cứu đã xác định được 12 loài thực vật xâm hại xuất hiện trên địa bàn huyện Văn Quan. Các loài này thuộc 6 bộ và 7 họ thực vật khác nhau. Bộ Asterales (bộ Cúc) chiếm ưu thế với 4 loài thuộc họ Asteraceae. Bộ Poales (bộ Lúa) có 2 loài thuộc họ Poaceae. Bộ Fabales (bộ Đậu) gồm 3 loài thuộc họ Fabaceae. Các bộ Lamiales, Solanales và Vitales mỗi bộ có 1 loài. Đặc điểm sinh học của các loài thực vật xâm hại rất đa dạng. Mỗi loài có cơ chế sinh sản và phát tán riêng biệt. Cỏ lào (Chromolaena odorata) là loài phổ biến nhất tại khu vực nghiên cứu. Loài này có khả năng sinh sản vô tính rất mạnh mẽ. Các loài khác như Cỏ chỉ tay, Cỏ phấn, Cây mai dương cũng gây hại đáng kể. Mức độ xâm hại khác nhau tùy theo điều kiện sinh thái từng vùng.

2.1. Cỏ lào loài thực vật xâm hại nguy hiểm nhất

Cỏ lào có tên khoa học Chromolaena odorata, thuộc họ Cúc (Asteraceae). Loài này còn có nhiều tên gọi khác như Yến Bạch, Cỏ hôi, Cỏ Việt Minh. Cỏ lào là cây nhỏ mọc thành bụi, thân hình trụ thẳng có thể cao hơn 2m. Lá mọc đối, lúc non hình tam giác, khi trưởng thành biến dạng thành hình quả trám lệch. Đầu lá nhọn, mép có răng cưa thưa, có lông thưa ở cả hai mặt. Cụm hoa hình trụ dài 9-11mm, đường kính 5-6mm. Quả bé có túm lông giúp phát tán xa nhờ gió. Cỏ lào là cây ưa sáng, chịu đựng tốt trong điều kiện khí hậu hanh khô. Sinh sản vô tính rất mạnh, ngọn non bẻ trụi lá chỉ sau một tuần mọc rễ trắng.

2.2. Các loài thực vật xâm hại khác đáng chú ý

Ngoài Cỏ lào, nghiên cứu ghi nhận nhiều loài thực vật xâm hại khác tại Văn Quan. Cỏ chỉ tay (Imperata cylindrica) thuộc họ Lúa, là loài cỏ dại phổ biến ở vùng đất trống. Cỏ phấn (Ageratum conyzoides) thuộc họ Cúc, thường mọc ở vùng đất ẩm. Cây mai dương (Mimosa pudica) thuộc họ Đậu, có gai và phản ứng nhanh khi chạm vào. Sắn dây (Pueraria montana) là loài dây leo bám phủ cây khác. Cỏ tranh (Imperata cylindrica) cạnh tranh mạnh với cây trồng nông nghiệp. Mỗi loài có mức độ nguy hiểm và cơ chế xâm lấn khác nhau. Việc nhận dạng chính xác từng loài là bước đầu tiên trong quản lý hiệu quả.

III. Giải pháp quản lý thực vật xâm hại hiệu quả tại Văn Quan

Quản lý thực vật xâm hại đòi hỏi cách tiếp cận tổng hợp và đồng bộ nhiều biện pháp. Chiến lược phòng ngừa luôn mang lại hiệu quả cao hơn so với kiểm soát sau khi xâm hại. Biện pháp cơ học bao gồm cắt, đốt có kiểm soát và nhổ bỏ tận gốc. Đối với Cỏ lào, cần phá hủy cả bộ rễ và thân cây để ngăn tái sinh. Biện pháp sinh học sử dụng động vật ăn cỏ hoặc côn trùng gây bệnh cho cây xâm hại. Biện pháp hóa học dùng thuốc diệt cỏ cần thận trọng để tránh ảnh hưởng cây bản địa. Giáo dục cộng đồng là yếu tố then chốt trong quản lý lâu dài. Cần tăng cường tuyên truyền về tác hại của thực vật xâm hại. Xây dựng mô hình quản lý cộng đồng để huy động sự tham gia của người dân. Phối hợp liên ngành giữa các cơ quan quản lý rừng, nông nghiệp và môi trường.

3.1. Cơ chế pháp lý và chính sách quản lý hiện hành

Luật Đa dạng sinh học năm 2008 là cơ sở pháp lý quan trọng nhất. Quyết định số 79/2007/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học. Kế hoạch xác định quản lý và kiểm soát sinh vật lạ xâm lấn là nội dung chính. Nhiệm vụ bao gồm điều tra thống kê và xây dựng chiến lược phòng ngừa. Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đa dạng sinh học được ban hành năm 2011. Các quy định pháp luật đã hoàn thiện nhưng hiệu quả thực thi còn hạn chế. Cần tăng cường giám sát và xử lý vi phạm nghiêm minh hơn.

3.2. Biện pháp kỹ thuật kiểm soát và phòng ngừa cụ thể

Biện pháp cơ học là phương pháp phổ biến nhất tại Văn Quan. Cắt đốt có kiểm soát giúp giảm mật độ cây xâm hại nhanh chóng. Đối với Cỏ lào, cần cắt sát gốc và thu gom toàn bộ thân lá. Phá hủy bộ rễ bằng cách cuốc xới đất ngăn tái sinh. Trồng cây bản địa che phủ giúp cạnh tranh với cây xâm hại. Biện pháp sinh học sử dụng dê, bò ăn cỏ xâm hại hiệu quả. Xây dựng vành đai ngăn chặn sự lây lan từ vùng này sang vùng khác. Giám sát thường xuyên tại các điểm nóng xâm hại để phát hiện sớm.

IV. Kết luận và hướng ứng dụng quản lý thực vật xâm hại

Nghiên cứu đã cung cấp cái nhìn toàn diện về thực trạng thực vật xâm hại tại huyện Văn Quan. Kết quả xác định 12 loài thực vật xâm hại với đặc điểm sinh học đa dạng. Cỏ lào là loài nguy hiểm nhất, cần ưu tiên kiểm soát. Thực trạng quản lý còn nhiều bất cập do thiếu nhận thức cộng đồng. Nguồn lực đầu tư cho công tác quản lý chưa tương xứng với mức độ nghiêm trọng. Giải pháp đề xuất bao gồm kết hợp nhiều phương pháp quản lý. Cần xây dựng kế hoạch hành động cụ thể cho từng giai đoạn. Ứng dụng công nghệ giám sát và bản đồ số hỗ trợ quản lý hiệu quả. Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng cho các huyện miền núi khác trong tỉnh. Hướng phát triển bao gồm mở rộng nghiên cứu và đánh giá hiệu quả kinh tế. Quản lý thực vật xâm hại là nhiệm vụ lâu dài cần sự kiên trì và phối hợp liên tục. Thành công phụ thuộc vào sự tham gia của toàn bộ cộng đồng và các cấp chính quyền.

4.1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học về đa dạng thực vật xâm hại tại Văn Quan. Dữ liệu về 12 loài và đặc điểm sinh học giúp nhận dạng chính xác. Kết quả phục vụ công tác quy hoạch và quản lý đất lâm nghiệp. Nghiên cứu là tài liệu tham khảo quý cho đào tạo cán bộ lâm nghiệp. Cơ sở dữ liệu về phân bố loài hỗ trợ xây dựng bản đồ cảnh báo. Ý nghĩa thực tiễn giúp người dân nhận biết và phòng ngừa hiệu quả. Nghiên cứu đóng góp vào kho tri thức về sinh vật ngoại lai xâm hại Việt Nam.

4.2. Hướng phát triển và đề xuất nghiên cứu tiếp theo

Cần mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các huyện lân cận trong tỉnh. Đánh giá tác động kinh tế - xã hội của thực vật xâm hại đối với sinh kế người dân. Nghiên cứu biện pháp sinh học kiểm soát Cỏ lào hiệu quả và bền vững. Xây dựng mô hình cảnh báo sớm kết hợp công nghệ GIS và giám sát cộng đồng. Đánh giá hiệu quả kinh tế của các biện pháp quản lý đã triển khai. Nghiên cứu khả năng thích ứng của thực vật xâm hại với biến đổi khí hậu. Phát triển ứng dụng di động hỗ trợ nhận dạng và báo cáo loài xâm hại.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

20/04/2026
Tài liệu luận văn nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Sự suy giảm đa dạng sinh học đã và đang là mối lo chung của toàn nhân loại. Trong nhiều nguyên nhân gây tổn thất đa dạng sinh học thì các loài SVNLXH đƣợc coi là một trong những mối đe dọa nguy hiểm nhất. Chúng đang ngày càng mở rộng khu phân bố, cạnh tranh gay gắt đến mức hủy diệt các loài bản địa, làm mất cân bằng sinh thái tự nhiên. Các loài SVNLXH có mặt trong hầu hết các nhóm sinh vật, từ vi sinh vật, nấm, thực vật bậc cao đến các loài động vật.

Trong các loài ngoại lai xâm hại thì thực vật ngoại lai là một trong những nhóm có mức nguy hại lớn do chúng có khả năng phát tán nhanh chóng và gây xâm lấn, hủy diệt các loài bản địa. Việt Nam đƣợc đánh giá là một trong 15 nƣớc có đa dạng sinh học (ÐDSH) cao trên thế giới. Nhƣng do tác động của nhiều yếu tố tự nhiên, ô nhiễm môi trƣờng, sinh vật ngoại lai xâm nhập, nhất là tác động của con ngƣời qua các hình thức nhƣ phá rừng, khai thác quá mức. đƣợc coi là những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng suy giảm ÐDSH ngày một gia tăng.

Thống kê cho thấy, cả nƣớc hiện có hơn 21 nghìn loài thực vật; gần 16 nghìn loài động vật; 3.000 loài vi sinh vật và nấm tập trung chủ yếu tại một số khu vực có ÐDSH cao, nhƣ: Dãy núi Hoàng Liên Sơn, Bắc Trƣờng Sơn, Tây Nguyên, vùng Ðông Nam Bộ. Tuy nhiên, Việt Nam cũng nhƣ nhiều nƣớc trên thế giới, đang phải đối mặt tình trạng suy giảm trầm trọng các hệ sinh thái giàu ÐDSH. Tổng số các loài động vật, thực vật hoang dã trong thiên nhiên của nƣớc ta đang bị đe dọa hiện nay là 882 loài (đƣợc ghi trong Sách Ðỏ năm 2007), tăng 161 loài so với lần xuất bản Sách Ðỏ trƣớc đây (năm 1992 - 1996). Ðáng lo ngại, hiện có chín loài động vật (tê giác hai sừng, bò xám, heo vòi, cầy rái cá, cá chép gốc, cá chình Nhật, cá lợ thân thấp, hƣơu sao, cá sấu hoa cà) và hai loài lan hài đƣợc xem là đã tuyệt chủng ngoài tự nhiên.

2 Số liệu thống kê của Cục Bảo tồn ÐDSH (Tổng cục Môi trƣờng) cho thấy: Có 94 loài thực vật và 48 loài động vật thủy sinh ngoại lai xâm hại. Ðặc biệt, có những loài thủy sinh vật ngoại lai vào Việt Nam với số lƣợng lớn, nhƣ Ốc bƣơu vàng, loài Mai dƣơng., do không đƣợc kiểm soát, kiểm tra chặt chẽ cho nên đã xảy ra tình trạng bùng phát trong tự nhiên. Hậu quả, các loài ngoại lai này lấn át, làm suy giảm các loài sinh vật, nguồn gien, phá vỡ cấu trúc, chức năng của hệ sinh thái. Phá hại mùa màng, giảm năng suất cây trồng, vật nuôi, thậm chí ảnh hƣởng sức khỏe con ngƣời.

Văn Quan là một huyện miền núi nằm ở phía tây cách thành phố Lạng Sơn 30 km trên trục đƣờng quốc lộ 1B từ Lạng Sơn đi Thái Nguyên. Diện tích rừng chiếm phần lớn với nhiều loài cây gỗ quý nhƣ: Đinh, Nghiến, Lát…Tuy nhiên trong những năm gần đây sự phát triển nhanh chóng của thực vật ngoại lai đã có ảnh hƣởng không nhỏ đến các loài thực vật bản địa, gây suy giảm đa dạng sinh học, mất cân bằng sinh thái. Xuất phát từ những lý do đó, đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý thực vật xâm hại trên địa bàn huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn” đƣợc thực hiện nhằm đánh giá sơ bộ đƣợc thực trạng về tình hình phát triển, những ảnh hƣởng của các loài thực vật xâm hại đến đa dạng thực vật và đề xuất quản lý thực vật xâm hại trên địa bàn huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn góp phần hạn chế sự phát triển của thực vật xâm hại, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trƣờng và phát triển bền vững. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.

Tổng quan về sinh vật ngoại lai – Thực vật ngoại lai xâm hại Khái niệm về sinh vật ngoại lai xâm hại (Invasive Alien Species) đã đƣợc nhiều tác giả định ngh a và sử dụng với nhiều tên gọi khác nhau nhƣ sinh vật ngoại lai xâm hại, sinh vật gây hại lạ 21. Sinh vật xâm hại trƣớc hết nó là loài sinh vật ngoại lai đƣợc du nhập tới hệ sinh thái nhất định, gây ra những tổn hại về kinh tế, môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời[27]. Sinh vật ngoại lai: Trong một hệ sinh thái nhất định, bất kể một loài nào dù là cây con, trứng, bào tử hoặc cơ quan sinh dƣỡng của loài đó mà không có nguồn gốc tự nhiên từ hệ sinh thái đó 27. Nhƣ vậy, thực vật ngoại lai xâm hại có thể đƣợc định ngh a nhƣ sau: Trƣớc hết nó là loài thực vật ngoại lai đƣợc du nhập tới hệ sinh thái mới, gây ra những tổn hại về kinh tế, môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời.

Khái niệm này đã đƣợc quy định tại Luật Đa dạng sinh học năm 2008 nhƣ sau: Loài ngoại lai là loài sinh vật xuất hiện và phát triển ở khu vực vốn không phải là môi trƣờng sống tự nhiên của chúng. Loài ngoại lai xâm hại là loài ngoại lai lấn chiếm nơi sinh sống hoặc gây hại đối với các loài sinh vật bản địa, làm mất cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện và phát triển. Ngoài ra, các khái niệm trên cũng đã đƣợc Công ƣớc Đa dạng sinh học (CBD) đề cập nhƣ sau: Sinh vật ngoại lai là loài, phân loài hay đơn vị phân loại thấp hơn đƣợc đƣa ra khỏi vùng phân bố tự nhiên của chúng, kể cả các bộ phận bất kỳ của sinh vật nhƣ các giao tử (gametes), hạt thực vật, trứng động vật hay chồi mầm 4 của những loài này có thể sống sót và sau đó sinh sản đƣợc. SVNLXH là loài sinh vật ngoại lai đã tạo lập đƣợc quần thể và phát tán, đe dọa các hệ sinh thái, nơi ở hoặc loài sinh vật khác, gây ra những tác hại về kinh tế và môi trƣờng [31].

Tất cả các nhóm sinh vật (virus, nấm, tảo, rêu, dƣơng xỉ, thực vật bậc cao, động vật không xƣơng sống, cá, lƣỡng cƣ, b sát, chim, thú) đều có nguy cơ trở thành sinh vật ngoại lai xâm hại 31. Phần lớn sinh vật xâm hại là loài ngoại lai nhƣng không phải loài ngoại lai nào cũng trở thành loài xâm hại. Nhiều loài sinh vật ngoại lai đang là nguồn lƣơng thực cần thiết trong đời sống của chúng ta (thí dụ nhƣ khoai tây, ngô,…). Mặt khác, loài bản địa cũng có thể trở thành loài xâm hại trong những điều kiện có sự thay đổi của môi trƣờng (nhƣ sự chăn thả quá mức, cháy rừng, thay đổi chế độ dinh dƣỡng, sự chiếm nơi ở của một số loài xâm hại,.

Thí dụ, loài keo bản địa của Uganda là Acacia học trở thành loài xâm hại ở nhiều vùng đồng cỏ sau sự giảm số lƣợng các động vật lớn là những tác nhân tự nhiên kìm hãm loài keo này 27. Theo số liệu của Chƣơng trình sinh vật ngoại lai xâm hại toàn cầu (GISP), trên thế giới có khoảng 22.000 loài thực vật xâm hại trên tổng số 250.000 loài thực vật, có ngh a là chiếm tỷ lệ hơn 11%. Theo Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế - IUCN, 2001: SVNLXH là một loài sinh vật ngoại lai đã thích nghi và phát triển trong một hệ sinh thái hoặc nơi sống tự nhiên hoặc nửa tự nhiên mới là nguyên nhân gây ra sự thay đổi và đe dọa đa dạng sinh học bản địa. Ở Việt Nam hiện tƣợng loài ngoại lai xâm hại đã xuất hiện từ những năm 1990 và gây những hậu quả nghiêm trọng.

Điều 8, khoản 8 của Công ƣớc Đa dạng sinh học đã kêu gọi các bên cùng tham gia công ƣớc: “Ngăn chặn sự du nhập, kiểm soát hoặc diệt trừ các loài ngoại 5 lai gây hại cho các hệ sinh thái, nơi sống hoặc các loài sinh vật bản địa”. Điển hình nhƣ loài Mai dƣơng (Mimosa pigra) xâm lấn dày đặc, tạo thành những vùng tập trung với diện tích khá lớn, mật độ dày ở nhiều vùng đất bán ngập dọc các đƣờng lộ hay các mƣơng nƣớc tại khu vực đồng bằng ven biển phía Nam tỉnh Thừa Thiên Huế. Loài Mai dƣơng còn cạnh trạnh với các loại thực vật bản địa về chỗ ở và thức ăn nên dẫn đến nguy cơ làm thay đổi thành phần của thảm thực vật bản địa, giảm sút tính đa dạng sinh học, thậm chí tiêu diệt các loài bản địa. Nơi loài cây này phát triển thì mật độ các loài chim, bò sát, thực vật thân thảo… giảm nhiều so với thảm thực vật bản địa.

Bên cạnh đó, loài Mai dƣơng có chứa độc tố minosine với hàm lƣợng 0,2% so với trọng lƣợng khô của lá, có thể gây nguy hiểm cho động vật bản địa. Đặc điểm chung của các SVNLXH *Loài SVNLXH là tác nhân chính gây ra những xáo động trong các hệ sinh thái Thành phần các loài sinh vật của một hệ sinh thái (HST) cụ thể tại bất cứ mọi địa điểm và từng thời gian nhất định sẽ tùy thuộc vào điều kiện hiện tại của môi trƣờng, vào mức độ và dạng xáo động đang xảy ra, sự xuất hiện và biến mất của các loài sinh vật trong HST đó và vào thành phần của nguồn cung cấp các loài sinh vật trong khu vực. Con ngƣời thƣờng có nhiều tác động và gây ra những biến đổi trong các HST trong việc thúc đẩy sự tạo thành của các loài SVNLXH các tác động của con ngƣời thể hiện trên các phƣơng diện: - Đẩy nhanh sự thay đổi môi trƣờng sống, các điều kiện tồn tại của các loài sinh vật. - Tăng trƣởng mạnh mẽ việc vận chuyển có chủ định và không có chủ định các loài sinh vật trên khắp thế giới.

6 - Làm tăng các loài sinh vật ở các khu vực, đồng thời làm giảm loài bản địa và dẫn đến làm giảm số lƣợng các loài trên thế giới. Sự tổ hợp tác động của các nhân tố trên đây tạo nên những biến đổi cơ bản trong các HST. Những loài sinh vật có đặc điểm phù hợp giành đƣợc lợi thế từ những xáo động trong HST, thƣờng có đƣợc khả năng tồn tại và phát triển mạnh. *Loài SVNLXH là loài được giải phóng sinh thái Sự phong phú của các loài sinh vật và phạm vi phân bố của chúng trong các hệ sinh thái là nhờ sự cân bằng giữa các quá trình sinh sản, phát triển, chết và di chuyển qua các khu vực và vùng phân bố khác nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ