CHƯƠNG 1 MOT SỐ VAN DE LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT THỰC ĐỊNH VE CAM KÉT HÔN iệm kết hôn, đăng kí kết hôn, cấm kết hôn 1.11 Khai niệm kết hôn, đăng kí kết hôn. Gia dinh được coi là tế bảo của sã hội. Hôn nhân và Gia đình là nén tăng của xã hôi, nơi sinh ra, nuôi dưỡng và giáo duc các thể hệ tương lai cia đất nước, nơi gìn giữ và phát triển các nét đặc trưng văn hoa, truyền thông của. mmt din tộc, một quốc gia.
Có các tế bảo khöe manh thi xã hội mới phát triển, ngược lại, nêu xuất hiện ngày cảng nhiều 'té bảo iỗi” thì xã hội sẽ suy thoái, truyền thống văn hóa dao đức cia dân tộc sẽ tan vỡ. Gia đỉnh ra đời, tôn tại và phat triển trước hết là nhờ Nba nước thừa nhận hôn nhân của đối nam nữ đẳng thời cũng quy định những quyển và ngiữa vụ pháp lý giữa ho Hiên nay, có nhiều quan điểm khác nhau về khả: niệm “kết hôn”. Theo Từ điển Tiếng Việt thì “Kết hôn được liễu là chính tiưức lẫy nham thành vợ. Như vậy, xét đưới góc đô ngôn ngữ hoc thì kết hôn là việc hai bên am nữ chính thức léy nhau thành vo chồng, Dưới góc độ khoa hoc pháp ly, Từ điển Luật học giải thích: “ Kết hôn la việc nam và nit xác lập quan hệ vợ chồng khi thôa mãn các điều Kiện kết hôn và thực hiện việc đăng ki két hôn tại cơ quan có thẩm quyền theo quy dinh của pháp luật”? Nhu vay, đưới góc độ pháp lý thi kết hôn được coi như một sư kiện pháp lý lam pháp sinh quan hệ hôn nhân giữa một người nam và một người Việtthông dụng, Neb Hồng Đặc, 535, ˆ TR đin Lait học C006), Nabe dfn bach Khoa, Nob Te pháp, Hà Nội 10, nữ.
Việc kết hôn nay phải tuân thi theo quy định của pháp luật vẻ điều kiện. kết hôn, đăng kí kết hôn thì mới được Nhà nước thừa nhận vả đảm bảo được các quyển và lợi ích hop pháp của các bên khi tham gia vao quan hệ ôn nhân. Mặc dù Luật HN&GD ra đời khá sớm, tuy nhiền Pháp luật Việt Nam. về HN&GD từ trước năm 1945 và cả trong Luật HN&GD năm 1959 va Luật HN&GD năm 1986 déu không đưa ra khái niềm cụ thé thé nao là kết hôn.
Thay vào đó chỉ đưa ra điểu kiên dé Nha nước thừa nhân việc kết hôn do là hop pháp và đúng quy định của pháp luật. Cu thể Tai Điều 4 Luật hôn nhân va gia đình năm 1959 quy định: “Con trai và con gái dén tuổi, được hoàn toàn tự nguyên quyết định việc Tiên của mình; không bên nào được ép buộc bên nào, không một at được cưỡng ép Hoặc cản trở" Tai Điển 1 Luật hôn nhân và gia đính năm 1986 quy đính: “Nhà metic in, tiễn bộ, một vợ một chẳng, vo ching bình đẳng nhằm xdy dung gia đình dân chủ. hoà thuận, hạnh phúc, bin ving” Khắc phục những thiểu sót trong Luật HN&GĐ nim 1959 và Luật HN&GĐ năm 1986 thi khái niêm kết hôn đã được đưa vào Luật HN&GĐ. năm 2000, Cụ thé tai Khoản 2 Điều 8 Luật HN&GB năm 2000 có quy định kết hôn là việc nam va nữ xác lêp quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp uất về điều kiện kết hôn va đăng ký kết hôn.
Đôi với Luật HN&GĐ năm 2014 thi khái niệm về kết hôn có sự thay đổi trong việc sử đụng từ ngữ nhưng nhìn chung vẫn giữ tinh than của Luật HN&GĐ năm 2000. Cu thé theo Luật HN&GÐ năm 2014 thì kết hôn là việc am vả nữ xác lập quan hệ vợ chẳng với nhau theo quy định của Luật nảy về điều kiện kết hôn va đăng ký kết hon? Nhu vay, theo Luật HN&GÐ năm 2014 thì kết hôn được hiểu la việc nam và nữ xác lap quan hệ vợ chéng với nhau theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 về điều kiên kết hôn và đăng kí kết hôn ‘Nam nữ kết hôn là mong muốn được gắn bó với nhau trong môi quan. hệ vơ chồng dựa trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyên nhằm mục đích xây dựng gia đính ấm no, tiền bộ, hạnh phúc. ‘Nau vậy, có thể hiểu nam va nữ mong muốn kết hôn phải đảm bao hai yêu tổ sau: Thứ nhất, phải thể hiện ý chi tự nguyện của cả nam va nữ lả mong muốn được kết hôn với nhau.
Đây là yêu tố quan trong va cũng là điểu kiện để dim bảo cho hôn nhân có giá trị pháp lý và đồng thời dưới sự từ nguyên đó là cơ sở để xây dựng gia đính bên vững, hạnh phúc. Nam nữ kết hôn lả mong muốn được gắn bó với nhau trong quan hệ vợ chẳng và cing nhau zây dựng gia định bình đẳng, tiên bộ, no âm vả thất hạnh phúc. Đồi với những trường hop kết hôn không có yếu tổ tự nguyên hoặc bị lửa dồi, cưỡng ép thi Nha nước không thừa nhân việc kết hôn đó là hợp pháp. "Thứ hai, việc kết hôn của nam nữ phải được Nha nước thừa nhận.
Đây 1a yên tô quan trong nhằm dé bao vệ quyển và lợi ích của các bên khi tham gia vào quan hệ hôn nhân. Hôn nhân chỉ được Nhà nước thừa nhân khi việc xác lập quan hệ hôn nhân tuân thủ đúng các quy định cia pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn Như đã phân tích ở trên, kết hôn là một sự kiện vô cùng quan trong không chỉ đối với mỗi cả nhân khi tham gia vào quan hệ hôn nhân và còn. ˆ Khoản 5 Điền 3 Luật HNVGGD nim 2014. 10 quan trong trong việc xây dưng một Nha nước vững mạnh từ những“ khỏe manh.
Chính vì vậy, việc kết hôn giữa nam nữ muốn được pháp luật thừa nhận thi trước hết phải tuân thủ những quy đính của pháp luật vẻ điều kiên kết hôn. Có ÿ kiến cho rằng điều kiện kết hôn lả những yêu câu của pháp luất thể hiên dưới dạng các quy định pháp luật bất buộc người kết hôn phải tuên. thủ, nhằm mục đích thiết lâp những cuộc hôn nhân phù hop với lợi ích của người kết hôn, lợi ich của gia định vả sã hồi” "Việc quy định về độ tuỗi kết hôn dựa trên căn cứ về tâm sinh lý về sinh. học để đưa ra các quy định nhằm mục đích dam bảo day đủ sức khỏe va hiểu biết cho cã người vợ và người chẳng khi kết hôn So với các quy định của Luật HN&GB năm 2000 “Norn te hat meot tudt trổ lên, nứt từ mười tắm tut rỡ Tén"® thì có thé thấy nhà làm luật đã nâng độ tuôi kết hôn của nam nữ lên thành “từ đi hai mươi tudt trở lô đối với nam và “từ ait mười tám tuổi trở lên" đối với nữ.
Việc quy định đô tuổi kết hôn như vậy phân ảnh được sự phủ: ‘hop với mức độ phát triển tâm sinh lý của con người Việt Nam Nam nữ xác. lập quan hệ hôn nhân để thực hiện chức năng cơ ban của gia đính đó là duy ti ‘noi giống. Chính vi vay, việc quy định độ tuổi kết hôn nhằm đảm bảo sự phát lì triển hoàn thiện của cơ thể ciin như các yêu tổ khác về tâm sinh lý, tư duy nhận thức, gắn với mức độ độc lập tự chủ để cùng nhau xây dựng gia đính. phat triển vững manh, hạnh phúc.
Thứ hai, việc kết hôn do nam và nữ tự nguyên quyết đính”. Như đã phan tích ở phan trên tự nguyên trong kết hôn lả một yếu tổ quan trong. nữ thể hiệný chí tự nguyên muốn kết hôn, cùng nhau xây dựng gia đính Sự. tự nguyện trong kết hôn đảm bão hôn nhân của họ có thể tổn tại lâu dai va bên.
Moi hanh vi cưỡng ép, lừa dối, không có su đồng ý của một trong hai bén nam nữ hoặc cả hai bên thi việc kết hôn đó được coi như trai với quy định cia pháp luật, và tất nhiền quan hệ hồn nhân đó không được pháp luật thửa nhân cũng như bao về Tint ba, không bi mắt năng lực hanh vi dân su*. ‘Theo Biéu 19 BLDS năm 2015 thi năng lực hành vi dan sự cả nhân có thé được hiểu như sau: “Năng lực hành vi dân sự của cả niên là khã năng của cá nhân bằng hành vi cũa minh xác lập, tuc hiện quyền ngÌữa vu dân si” Ngoài ra, BLDS năm 2015 cũng quy định khi một người do bị bệnh. tâm thân hoặc mắc bệnh khác ma không thể nhận thức, lam chủ được hanh vi thi theo yêu cẩu của người có quyển, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bé người nay là người mắt năng. lực han vi dân sự trên cơ sỡ có kết luận giám định pháp y tâm thân” Như vậy có thể hiểu, người mắt năng lực hảnh vi dân sự là người bị ‘bénh tâm thân hoặc bênh khác mrả không thé nhận thức, làm chủ được hành vị của mình bị Tòa án tuyên bổ là người mất năng lực hảnh vi đân sự.
1b Kinin | Điệu § DuậtEN&GĐ xăm 2014. ¢ Khoản] Điện S Luật HNGGD nếm 2014 'BLDS năm 2015 12 'Việc quy định người kết hôn không bi mất năng lực hành vi dân sự lả điều cân thiết bdi những người mắt năng lực hành vi dân sự ban thân họ đôi khi không thé nhận thức đươc thé nào là hồn nhân, kết hôn, cing với đỏ la những quyển va nghĩa vụ của bản thân khi tham gia vào quan hệ hôn nhân, chính vi vậy việc sây dung một gia đỉnh vững mạnh, hạnh phúc đổi với ho la rat kho khăn Két hôn không phải chỉ là việc của hai người mã khi quan hệ hôn nhân được sắc lập thì đổi với c& nam vả nữ déu phát sinh những quan hệ khác như quan hệ vợ - chẳng, quan hệ giữ cha, mẹ và con. Đối với người bị mất năng lực bảnh vi dân sự không thé làm chủ được nhận thức và hành vi của minh thì việc thực hiện quyển vả nghĩa vụ của họ khi kết hôn là không thể. Chưa kể việc người mắt năng lực hảnh vi dân sự không thé lam chủ được nhận thức và hành vi của mình thì cũng có thé thay yêu tổ “nenguyé trong kết hôn của họ không được đâm bão béi chính bản thén họ cũng không hiểu được hành đồng, không làm chủ được hành vi của minh, Thứ te, việc kết hôn không thuôctrong các trường hợp cam kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật HN&GD năm.