BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI ĐÈ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÁP TRƯỜNG LUẬT NUOI CON NUÔI —- THỰC TIEN THI HANH MA SO: LH - 2016 - 46/DHL - HN Chủ nhiệm dé tai: TS. Nguyễn Phương Lan Thu ký đề tài: Ths. Bế Hoài Anh HÀ NỘI - 2017 DANH SÁCH THAM GIA THỰC HIỆN ĐÈ TÀI TS. Nguyễn Phương Lan Trường Đại học - Chủ nhiệm đê tài; Luật Hà Nội - Tác giả chuyên đề 1; - Tác giả chuyên đề 4; - Báo cáo tổng thuật đề tài; Ths.
Bê Hoài Anh Trường Đại học | Thư ky đê tài Luật Hà Nội PGS. Nguyễn Thị Lan | Trường Đạihọc | Tác giả chuyên đê 2 Luật Hà Nội ThS. Pham Kim Anh Cục Con nuôi | Tác giả chuyên dé 3 — Bộ Tư pháp TS. Bùi Minh Hồng Trường Đại học | Tác giả chuyên đề 5 Luật Hà Nội ThS.
Đào Thị Hà Cục Con nuôi | Tác giả chuyên đề 6 — Bộ Tư pháp DANH MỤC CHỮ VIET TAT SỬ DỤNG TRONG DE TÀI QTHL Quốc Triều Hình luật HVLL Hoàng Việt Luật lệ BLDS Bộ luật dân sự TTDS Tố tụng Dân sự HN&GD Hôn nhân và gia đình HDTTTP Hiệp định tương trợ tư pháp va pháp lý CRC Công ước Quốc tế về quyền trẻ em TAND Tòa án nhân dân MỤC LỤC Trang MO DAU Phan thứ nhất: Tổng quan về đề tai nghiên cứu | Phan thứ hai: Báo cáo tong hợp đề tài 9 Phần thứ ba: Các chuyên đề nghiên cứu 86 DANH MUC CHUYEN DE Chuyên đề 1: Một số van dé lý luận chung về pháp luật nuôi con 87 nuôi TS. Nguyễn Phương Lan — Đại học Luật Hà Nội Chuyên đề 2: Điều kiện nuôi con nuôi, thực tiễn thi hành và những 110 vướng mắc cần khắc phục PGS. Nguyễn Thị Lan — Dai học Luật Hà Nội Chuyên đề 3: Thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước 128 ngoài — Thực tiễn thực hiện, những vướng mắc, bất cập và hướng hoàn thiện Ths. Phạm Kim Anh — Cục Con nuôi — Bộ Tu pháp Chuyên đề 4: Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi — những 151 vướng mắc, bất cập và hướng hoàn thiện TS.
Nguyễn Phương Lan — Đại học Luật Hà Nội Chuyên đề 5: Chấm dứt việc nuôi con nuôi và thực tiễn thực hiện 178 TS. Bùi Minh Hong — Dai học Luật Hà Nội Chuyên đề 6: Tình hình thực hiện Luật Nuôi con nuôi và một số 194 kiến nghị hoàn thiện Ths. Đào Thi Hà — Cục Con nuôi — Bộ Tu pháp PHAN THỨ NHAT TONG QUAN VE DE TAI NGHIEN CUU 1. Tính cấp thiết của đề tài Luật Nuôi con nuôi được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 17/6/2010 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2011.
Luật Nuôi con nuôi có hiệu lực thi hành đã được gần 7 năm. Luật Nuôi con nuôi được xây dựng là tiền đề pháp lý để Việt Nam gia nhập Công ước La Hay số 33 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế (viết tắt là Công ước La Hay). Công ước La Hay có hiệu lực thi hành ở nước ta từ ngày 1/2/2012. Luật Nuôi con nuôi lần đầu tiên được ban hành đã điều chỉnh việc nuôi con nuôi một cách toàn diện, tao cơ sở pháp lý giải quyết các van đề phát sinh trong lĩnh vực nuôi con nuôi.
Luật Nuôi con nuôi điều chỉnh việc nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tổ nước ngoài trong sự liên kết với nhau một cách thống nhất và chặt chẽ. Luật Nuôi con nuôi quy định khá rõ ràng về thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi; trình tự tìm gia đình thay thế cho trẻ em ở trong nước trước khi giải quyết cho trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài; nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi; lệ phí và chi phí giải quyết việc nuôi con nuôi; hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi; chấm dứt nuôi con nuôi; giải quyết van đề nuôi con nuôi thực tế. Tuy nhiên qua gan 7 năm thực hiện, Luật Nuôi con nuôi cũng bộc lộ những vấn dé vướng mắc, bat cập, chưa phù hợp với thực tiễn, hoặc có những quy định chưa đầy đủ, chưa rõ ràng cần có sự sửa đổi, bố sung. Vi dụ: các quy định về thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi phức tạp hơn, hồ sơ nuôi con nuôi cần nhiều loại giấy tờ hơn; quy định về hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi chưa đầy đủ, thiếu rõ ràng, chưa có sự tương thích với quy định của các ngành luật khác có liên quan, đặc biệt là hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài còn chưa được quy định; quy định về nuôi con nuôi thực tế có yếu tô nước ngoài chưa được điều chỉnh nên không có cơ sở giải quyết các trường hợp phát sinh trong thực tiễn; các điều kiện của việc con nuôi chưa chặt chẽ, dẫn đến việc nhận thức và áp dụng trong thực tế thiếu thống nhất v.
Về thực tiễn thực hiện cũng phát sinh nhiều vướng mắc khó khăn cần có sự tháo gỡ dé đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự, đặc biệt là của trẻ em được nhận nuôi. Việc tìm gia đình nuôi dưỡng trẻ em ở trong nước chưa được quan tâm và thực hiện đầy đủ; xác định điều kiện của con nuôi, của người nhận nuôi còn khó khăn, lúng túng; việc xác định và lay y kiến của cha mẹ đẻ, người giám hộ của trẻ cho làm con nuôi còn khó khăn; hồ sơ của trẻ dé giới thiệu làm con nuôi chưa day du, thiéu các thong tin về tình trang sức khỏe của trẻ; việc phối hop giữa các cơ quan trong việc giới thiệu trẻ em còn chậm; cơ chế giám sát thực hiện việc nuôi con nuôi chưa được quan tâm, thực hiện day đủ; thực hiện việc thu chi, phân bố nguồn thu từ phí, lệ phí trong việc giải quyết nuôi con nuôi còn nhiều vướng mắc, tắc nghẽn, gây ảnh hưởng đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em ở các cơ sở bảo trợ xã hội. Vấn đề nuôi con 2 nuôi thực tế còn tồn đọng SỐ lượng khá lớn chưa được đăng ký dù có đủ điều kiện (3264 trường hợp)! trong khi thời gian đăng ký việc nuôi con nuôi đã hết. Xuất hiện việc nuôi con nuôi nhà chùa.
Việc nuôi con nuôi có yếu tổ nước ngoài đã có những thay đổi căn bản về nguyên tắc, thủ tục giải quyết, sự phối hợp giữa các nước có liên quan theo quy định của Luật Nuôi con nuôi và Công ước La Hay. Tuy nhiên trong thực tiễn thực hiện vẫn gap nhiều vướng mắc, khó khăn về thủ tục, về áp dụng pháp luật giải quyết hệ quả pháp lý. Luật Nuôi con nuôi không hề có quy định nào dẫn chiếu tới việc áp dụng pháp luật của các nước có liên quan trong việc xác định hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Đây là một lỗ hồng pháp lý lớn cần sớm được khắc phục nhằm tạo cơ sở pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của trẻ em Việt Nam làm con nuôi nước ngoài.
Trước những van đề còn tôn tại đó, với nhu cầu về nuôi con nuôi trong nước và có yếu tố nước ngoài hiện nay, việc nghiên cứu tình hình thực thi Luật Nuôi con nuôi, làm rõ những vướng mắc, bat cập, trên cơ sở đó chỉ ra những điểm cần sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi và đề xuất các biện pháp nhằm đảm bảo thực hiện có hiệu quả các hoạt động trong quá trình giải quyết, thực hiện việc nuôi con nuôi, nhằm đảm bảo lợi ích tốt nhất của trẻ em được nhận nuôi là một yeu cau cap thiét, cd ý nghĩa lý luận, khoa học và thực tiễn. Vì vậy việc nghiên cứu đề tài: “Luật Nuôi con nuôi — thực tiễn thi hành va giải pháp hoàn thiện” trong bối cảnh hiện nay có ý nghĩa thiết thực về mặt lý luận và thực tiễn. Tình hình nghiên cứu của đề tài Vấn đề nuôi con nuôi đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Từ khi Luật Nuôi con nuôi có hiệu lực đến nay cũng đã có một số công trình, bài viết, khóa luận tốt nghiệp đại học, luận văn thạc sĩ bàn về một số khía cạnh, nội dung riêng lẻ của Luật Nuôi con nuôi nhưng chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào đề cập một cách toàn diện các quy định của Luật Nuôi con nuôi từ góc độ lý luận cũng như thực tiễn thi hành.
* Các luận văn thạc sĩ liên quan đến vẫn đề nuôi con nuôi theo Luật Nuôi con nuôi có thể ké đến là: - “Nuôi con nuôi theo pháp luật Việt Nam” của tác giả Bùi Thị Hương, luận văn thạc sĩ luật học tại khoa Luật — Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011. Luận văn phân tích quá trình phát triển của pháp luật nuôi con nuôi, những kết quả đã đạt được, ! Cục Con nuôi, “Công tác đăng ký nuôi con nuôi thực tế” - Chuyên dé 2 — Hội nghị Sơ kết 3 năm thực hiện Luật Nuôi con nuôi và 2 năm thi hành Công ước La Hay về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế - Hội nghị do Bộ Tư pháp — Unicef Việt Nam tổ chức, Hà Nội tháng 4/2014, tr. những hạn chế và sự cần thiết của Luật Nuôi con nuôi. Tuy nhiên, những nội dung của Luật Nuôi con nuôi không được phân tích kỹ trong luận văn này - “Hậu quả pháp lý của việc nuôi con nuôi — một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Thị Hiến, luận văn thạc sĩ tại Đại học Luật Hà Nội, năm 2013.
Luận văn chỉ phân tích về hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi theo pháp luật Việt Nam và Luật Nuôi con nuôi, qua đó nêu những điểm còn bắt cập. - “Pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài của Việt Nam trong mỗi tương quan với Công ước La Hay” của Vũ Kim Dung, luận văn thạc sĩ luật học tại Khoa Luật — Dai học Quốc gia Hà Nội, năm 2013. Luận văn đã khái quát các quy định của pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, đánh giá những điểm tích cực và hạn chế, những điểm tương đồng và khác biệt giữa Luật Nuôi con nuôi với Công ước La Hay. - “Nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi theo Luật Nuôi con nuôi” của Nguyễn Thị Phương Thu, luận văn thạc sĩ luật học năm 2014, Trường Đại học Luật Hà Nội.
Tác giả đã phân tích các nguyên tắc của việc nuôi con nuôi theo quy định của Luật Nuôi con nuôi và đánh giá thực tiễn áp dụng các nguyên tắc này.