Chương 1: Cơ sở lý luận về chế định nuôi con nuôi. Chương 2: Thực trạng chế định nuôi con nuôi hiện nay. Chương 3: Thực tiễn áp dụng quy định của Luật nuôi con nuôi và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật nuôi con nuôi ở Việt Nam hiện nay. 6 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH NUÔI CON NUÔI 1.
Khái niệm nuôi con nuôi, chế định nuôi con nuôi 1. Khái niệm nuôi con nuôi Nuôi con nuôi là hiện tƣợng đã xuất hiện từ rất lâu đời trên thế giới. Trong Bộ luật Hammurabi, một trong những bộ luật thành văn cổ xƣa nhất đã chứa đựng những quy định về nuôi con nuôi, đặc biệt với đối tƣợng là trẻ em bị bỏ rơi. Mục 106 của Bộ luật này đã quy định: Trƣớc khi đàn ông có thể nuôi một đứa trẻ bị bỏ rơi, ông ta phải tìm cha mẹ đẻ của nó, nếu tìm thấy thì phải trả đứa trẻ cho họ.
Có thể thấy, từ cổ xƣa đến hiện đại giải pháp tốt nhất mà xã hội giành cho trẻ em vẫn là “ƣu tiên trƣớc hết đối với trẻ là đƣợc chăm sóc bởi chính cha mẹ đẻ, đƣợc sống trong môi trƣờng gia đình ruột thịt của mình” (Điều 3 Tuyên bố 1986 của Liên Hợp quốc). Trong hệ thống pháp luật La Mã cổ đại thì nuôi con nuôi chủ yếu nhằm để duy trì dòng họ, thờ cúng tổ tiên và thừa kế tài sản. Trong Bộ luật dân sự Napoleon năm 1804 - Bộ luật ra đời đánh dấu nền lập pháp hiện đại, vấn đề con nuôi cũng đƣợc đề cập. Ở vào thời kỳ đầu khi đƣợc ban hành và thực hiện, Bộ luật xóa bỏ đối tƣợng con nuôi là trẻ vị thành niên, chỉ cho phép con nuôi là ngƣời đã trƣởng thành và đã đƣợc chăm sóc trong gia đình cha mẹ nuôi 06 năm.
Ngƣời nuôi phải từ 50 tuổi trở lên và không có con nối dõi. Giải pháp nuôi con nuôi chỉ đƣợc thực hiện trong trƣờng hợp cha mẹ nuôi không có ngƣời thừa kế. Con nuôi đƣợc giữ nguyên tất cả các quyền của chúng trong gia đình gốc, chỉ đƣợc quyền thừa kế tài sản và mang họ của ngƣời nuôi. Ở Việt Nam, theo từ điển bách khoa Việt Nam thì khái niệm nuôi con nuôi là việc một ngƣời (ngƣời nuôi) nhận nuôi ngƣời khác (con nuôi) nhằm tạo ra những tình cảm gắn bó giữa hai ngƣời, bảo đảm cho ngƣời con nuôi đƣợc thƣơng yêu, nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục tốt.
Việc nhận nuôi con nuôi do UBND xã/phƣờng/thị trấn (UBND cấp xã) nơi ngƣời nuôi và của con nuôi công nhận và ghi vào sổ hộ tịch. Thông qua sự kiện pháp lý này giữa ngƣời nuôi và con nuôi phát sinh các quyền và nghĩa vụ nhƣ giữa cha mẹ đẻ và con đẻ [7, tr. 7 z Theo Luật HN&GĐ năm 2000 thì: Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa ngƣời nhận nuôi con nuôi và ngƣời đƣợc nhận làm con nuôi, bảo đảm cho ngƣời đƣợc nhận làm con nuôi đƣợc trông nom, nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội. Một ngƣời có thể đƣợc nhận một hoặc nhiều ngƣời làm con nuôi.
Giữa ngƣời nhận nuôi con nuôi và ngƣời đƣợc nhận làm con nuôi có các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con theo quy định của Luật này [12, Điều 67]. Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định: Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa ngƣời nhận con nuôi và ngƣời đƣợc nhận làm con nuôi [15, Điều 3, Khoản 1]. Con nuôi là ngƣời đƣợc một ngƣời hoặc hai vợ chồng nhận làm con và coi nhƣ con đẻ, nhƣng giữa hai bên không có liên hệ với nhau về mặt sinh học, không có quan hệ huyết thống với nhau hoặc tuy có quan hệ huyết thống với nhau trong phạm vi nhất định nhƣng không phải là quan hệ huyết thống trực hệ và không sinh thành ra nhau [9, tr. Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa ngƣời nhận nuôi và ngƣời đƣợc nhận nuôi, các bên đối xử với nhau nhƣ cha mẹ đẻ và con đẻ nhƣng không có quan hệ với nhau về mặt sinh học và huyết thống.
Nếu quan hệ giữa cha mẹ đẻ và con là quan hệ dựa trên sự kiện sinh đẻ, là mối liên hệ huyết thống tự nhiên, quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa cha mẹ đẻ và con đẻ phát sinh không phụ thuộc vào hôn nhân của cha mẹ là hợp pháp hay không hợp pháp thì quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi đƣợc hình thành dựa trên ý chí chủ quan của cha mẹ nuôi và con nuôi, quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chỉ phát sinh khi quan hệ nuôi con nuôi đƣợc pháp luật công nhận. Xem xét dƣới góc độ xã hội, “con nuôi là con của người khác nhưng được một người hoặc hai người là vợ chồng nhận làm con và coi như con đẻ, nhằm thỏa mãn những nhu cầu, lợi ích nhất định của các bên” [9, tr. Việc nuôi con nuôi có thể đƣợc xác lập do sự thỏa thuận của cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên hoặc giữa cha mẹ nuôi và cha mẹ đẻ của con nuôi chƣa 8 z thành niên trên cơ sở tình cảm và ƣớc nguyện gắn bó giữa hai gia đình (nuôi con nuôi trên danh nghĩa) hoặc có thể do ngƣời nhận nuôi và ngƣời đƣợc nhận nuôi đã gắn bó với nhau, thực hiện quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con trên thực tế, đáp ứng đƣợc các điều kiện chủ thể nhƣng chƣa đăng ký tại các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền (nuôi con nuôi thực tế) hoặc việc nuôi con nuôi theo phong tục tập quán đã từng tồn tại từ lâu trong cộng đồng các dân tộc thiểu số và hiện nay vẫn còn tồn tại nhƣ: dân tộc Mƣờng, Thái, Dao, Thổ, Mông, Khơ Mú đều có phong tục nhận nuôi con nuôi [21, tr. Nhƣ vậy, dƣới góc độ xã hội, việc nuôi con nuôi không đòi hỏi các điều kiện chặt chẽ mà chỉ cần đáp ứng những lợi ích về vật chất và tinh thần, không cần có sự thừa nhận của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền.
Việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi này không đƣợc pháp luật điều chỉnh. Dƣới góc độ pháp lý, việc nuôi con nuôi phải đăng ký và do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền tiến hành đăng ký, các nghi thức nhận nuôi con nuôi khác (nhƣ giấy tờ viết tay giữa cha mẹ đẻ cho con đẻ của mình làm con nuôi ngƣời khác hay ngƣời nhận con nuôi lập đàn lễ cúng tế tổ tiên về việc nhận con nuôi hoặc nhặt đƣợc trẻ bị bỏ rơi thì mang về nuôi mà… không khai báo, đăng ký với cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền) đều không có giá trị pháp lý và không đƣợc nhà nƣớc công nhận, giữa ngƣời nhận con nuôi và ngƣời đƣợc nhận làm con nuôi không có các quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật. Ở góc độ này, việc nuôi con nuôi có thể đƣợc hiểu là sự kiện pháp lý hoặc là quan hệ pháp luật. * Nuôi con nuôi là một sự kiện pháp lý Sự kiện pháp lý là những sự kiện xảy ra trong thực tế và chỉ trở thành sự kiện pháp lý khi pháp luật xác định rõ điều đó [25].
Với tƣ cách là một sự kiện pháp lý, nuôi con nuôi là một hình thức pháp lý nhằm xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa ngƣời nhận con nuôi và ngƣời đƣợc nhận làm con nuôi theo các điều kiện do pháp luật quy định, mà không liên quan đến quan hệ huyết thống sinh học giữa hai bên [9, tr. Nuôi con nuôi là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp 9 z luật cha mẹ - con giữa ngƣời nhận nuôi và ngƣời đƣợc nhận nuôi, khi giữa họ không có quan hệ huyết thống trực hệ mà đƣợc xác lập trên cơ sở quyết định của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền theo ý chí, nguyện vọng của các đƣơng sự và tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật về các điều kiện xác lập quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi. Để làm rõ bản chất của sự kiện pháp lý nuôi con nuôi cần xem xét mối quan hệ giữa các sự kiện cấu thành của nó. Nuôi con nuôi bao gồm các sự kiện pháp lý sau Một là, các chủ thể trong quan hệ nuôi con nuôi bao gồm: cha mẹ nuôi (ngƣời nhận con nuôi), con nuôi (ngƣời đƣợc nhận làm con nuôi) và cha mẹ đẻ của ngƣời đƣợc nhận làm con nuôi có đủ điều kiện của việc nuôi con nuôi.
Hai là, sự thể hiện ý chí của các chủ thể trong quan hệ nuôi con nuôi. Quan hệ nuôi con nuôi chỉ đƣợc hình thành khi các bên có liên quan trong quan hệ nuôi con nuôi thể hiện ý chí trong việc cho và nhận con nuôi. Pháp luật không thừa nhận quan hệ nuôi con nuôi khi ý chí của một trong các bên không thể hiện rõ hoặc thể hiện không đúng theo quy định của pháp luật. + Sự thể hiện ý chí của người nhận nuôi con nuôi Ngƣời nhận nuôi con nuôi phải thể hiện ý chí của mình về việc mong muốn nhận nuôi đứa trẻ và thiết lập quan hệ cha mẹ và con với đứa trẻ đó thông qua đơn xin nhận nuôi con nuôi.
+ Sự thể hiện ý chí của cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ em được cho làm con nuôi Ý chí của những ngƣời này trong việc cho trẻ em làm con nuôi phải minh thị và xuất phát từ sự tự nguyện thật sự của bản thân họ mà không có bất cứ sự tác động, thúc ép, dụ dỗ, hứa hẹn hoặc một áp lực nào. Ý chí đó phải hoàn toàn độc lập. Nội dung của ý chí đó là đồng ý cho con mình làm con nuôi của ngƣời khác. Sự đồng ý đó có thể thể hiện bất cứ lúc nào nhƣng nó chỉ có ý nghĩa sau khi đứa trẻ đƣợc sinh ra mà còn sống ít nhất đƣợc 15 ngày [15, Điều 4].
+ Sự thể hiện ý chí của bản thân người con nuôi Khoản 1 Điều 21 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định “.trường hợp 10 z nhận trẻ em từ đủ 09 tuổi trở lên làm con nuôi thì còn phải được sự đồng ý của trẻ em đó”.