Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về ODA Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng thu hút và sử dụng vốn ODA tại tỉnh Hòa Bình Chương 4: Kết luận và khuyến nghị 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1:TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ODA 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Nền kinh tế Việt Nam xuất phát điểm là một đất nƣớc nông nghiệp lạc hậu, bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh. Đảng và Nhà nƣớc đang tiếp tục đổi mới và huy động tất cả nguồn lực để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiên đại hóa đất nƣớc để đạt mục tiêu sau 2010 nƣớc ta sẽ trở thành nƣớc có mức thu nhập trung bình và tiến tới năm 2020 cơ bản trở thành một nƣớc công nghiệp hiện đại. Trong hoàn cảnh, nguồn vốn cho đầu tƣ ở trong nƣớc còn hạn hẹp, tốc độ tích lũy chƣa cao nên để đáp ứng lƣợng vốn rất lớn cho nhu cầu tái thiết xây dựng nền kinh tế thì nguồn vốn từ bên ngoài có ý nghĩa rất to lớn đối với nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam.
Trong đó, nguồn vốn vay có tính ƣu đãi nhất là nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). Chính từ tính phù hợp của vốn ODA, Nhà nƣớc ta đã quan tâm sâu sắc trong việc vận động thu hút nguồn vốn này cho phát triển nền kinh tế. Năm 1992, nhóm DAC đƣa ra nguyên tắc về các biện pháp mới đối với cấp viện trợ ràng buộc, cho phép các nƣớc đang phát triển nhận viện trợ nhiều hơn, đƣợc hƣởng ƣu đãi hơn nhƣng cũng bị ràng buộc hơn nhằm kiểm soát viện trợ có hiệu quả. Cụ thể là không dành viện trợ ràng buộc cho các nƣớc có thu nhập bình quân đầu ngƣời không đủ tiêu chuẩn hƣởng khoản vay dài hạn 17-20 năm của WB, hạn chế áp dụng viện trợ ràng buộc cho các dự án giá trị lớn hơn 2 triệu SDR (quyền rút vốn đặc biệt) hoặc không bảo đảo mức ƣu đãi tối thiểu là 80%.
Vì vậy, điều kiện để đƣợc nhận ODA là các nƣớc đang phát triển, chậm phát triển và các nƣớc nghèo có thu nhập bình quân đầu ngƣời dƣới 100 USD/năm. Nhìn nhận về mức thu nhập này có thay đổi tùy theo từng nƣớc, từng khu vực, từng tổ chức đa phƣơng. Chẳng hạn ADB dành tín dụng từ Quỹ phát triển Châu Á (ADF) cho các nƣớc có thu nhập bình quân 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đầu ngƣời dƣới 650 USD/năm với thời hạn 10 năm, ân hạn 10 năm, lãi suất 0,75%/năm. Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý và sử dụng ODA của một số nƣớc, tác giả nhận thấy một số vấn đề nổi cộm nhƣ sau: Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thùy với đề tài “Kinh nghiệm thu hút ODA của một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, 2013, Đại học Giao thông vận tải, Hà Nội: Ở Châu Mỹ La tinh, điển hình là Braxin, bằng vốn vay nƣớc ngoài, nƣớc này đồng thời tiến hành một chƣơng trình xây dựng kinh tế cực kỳ to lớn bao gồm một loạt dự án: Xây dựng tuyến đƣờng sắt Miras Gnerais tới Sao Paolo kéo dài hơn 3 năm; xây dựng nhiều nhà máy thủy điện mà chỉ riêng một nhà máy đã ngốn số vốn gấp 10 lần số vốn đầu tƣ vào chƣơng trình thủy điện ở toàn vùng Đông Bắc; xây dựng 9 nhà máy điện hạt nhân; xây dựng tổ hợp nông - công nghiệp gang thép vùng Đông Bắc với số vốn khổng lồ là 620 triệu USD.
Kết quả là Braxin đã trở thành con nợ lớn nhất thế giới với số nợ lên tới 108 tỷ USD vào năm 1986 và là một trong hai nƣớc đầu tiên tuyên bố vỡ nợ vào tháng 8/1992. Hay nhƣ Châu Phi, nguồn viện trợ đã tập trung quá lớn vào xây dựng nhiều công xƣởng, biệt thự lớn, đầu tƣ chủ yếu vào phát triển đô thị, không quan tâm đến phát triển nông nghiệp, đầu tƣ không cân đối, chú trọng nhiều đến khu vực làm ăn thu lỗ, cần sự bao cấp của nhà nƣớc, dẫn đến sử dụng vốn kém hiệu quả, gây tổn thất lớn cho nền kinh tế quốc dân. Kết quả là mặc dù nguồn vốn ODA đổ vào những nƣớc Châu Phi năm 80 lên tới 35-40% tổng ODA thế giới với mức ƣu đãi cao, tỷ lệ cho không 60-80% nhƣng tốc độ tăng trƣởng kinh tế trong những năm này liên tục giảm. Khác với Châu Phi, Đài Loan xác định nông nghiệp là lĩnh vực ƣu tiên hàng đầu, nên thời kỳ 1951-1953, trong tổng số vốn 267 triệu USD viện trợ nƣớc này đã chi hơn 50% cho lĩnh vực phát triển nông nghiệp, tiếp theo là các lĩnh vực khác nhƣ kỹ thuật, công nghiệp hạ 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tầng thủy lợi, giao thông…Chính phủ Đài Loan đã vạch ra chiến lƣợc sử dụng ODA vừa phù hợp với tôn chỉ mục tiêu của nƣớc cấp viện trợ, vừa phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phát huy đƣợc thế mạnh, tiềm năng vốn có của đất nƣớc ở tùng giai đoạn phát triển.
Năm 2010, Đài Loan đƣợc mệnh danh là “con rồng Châu Á” với nền kinh tế phát triển vào hàng bậc nhất khu vực Châu Á. Mức thu nhập bình quân đầu ngƣời năm 2010 là 14.000 USD/năm, đứng thứ 25 trên thế giới. Bên cạnh việc xác định rõ chiến lƣợc sử dụng ODA thì việc quy định mức vay và trả nợ hàng năm cũng không kém phần quan trọng. Một trong những biện pháp giúp Thái Lan không bị sa lầy vào vòng nợ nần là xác định “trần vay”, trả hàng năm.
Một khoản vay không đƣợc tính là nguồn thu ngân sách nhƣng các khoản trả nợ đƣợc nhà nƣớc cân đối trong ngân sách quốc gia hàng năm. Chính phủ Thái Lan quy định mức vay nợ không đƣợc vƣợt quá 10% kế hoạch thu ngân sách, mức trả nợ bằng 9% kim ngạch xuất khẩu hoặc 20% chi ngân sách hàng năm. Sự khống chế này nhằm cân đối khả năng vay, trả nợ, mức xuất khẩu của đất nƣớc, tránh vay mƣợn tràn lan. Nhiều dự án phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nƣớc, có nguồn vay nhƣng vƣợt quá giới hạn cho phép đều không đƣợc xét duyệt.
Là một nƣớc có mức vay nợ nƣớc ngoài cao, trong giai đoạn 1980-1986 mức vay nợ mỗi năm bình quân khoảng 1,75 tỷ USD nhƣng Thái Lan luôn trả nợ đúng hạn, trung bình mỗi năm trên 1 tỷ USD. Những vấn đề nêu trên chỉ là một số ví dụ điển hình từ một vài khía cạnh chƣa đầy đủ, là sự tổng hợp giản đơn từ những kinh nghiệm thực tế của các nƣớc đã và đang sử dụng ODA. Việc xem xét, học hỏi kinh nghiệm nƣớc ngoài không phải là sao chép y nguyên những cũng cần đƣợc coi là một vấn đề mang tính cấp bách đối với Việt Nam khi mà Việt Nam đang trong quá 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trình chuyển đổi nên việc sử dụng vốn nƣớc ngoài có hiệu quả trong một nền kinh tế thị trƣờng là một vấn đề hoàn toàn mới mẻ. Từ năm 1950, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với các nƣớc XHCN và nhận đƣợc nhiều khoản viện trợ ODA.
Trong những năm chiến tranh, chúng ta đã vƣợt qua những khó khăn, thiếu thốn, có đủ sức mạnh để chiến thắng và giành độc lập một phần cũng nhờ vào những khoản viện trợ vay này. Giai đoạn sau 1975 đến trƣớc năm 1993, các nƣớc trong hệ thống XHCN lâm vào giai đoạn khủng hoảng về chính trị, trong khi đó chính sách thù địch của Mỹ, cấm vận đối với Việt Nam của Mỹ và hàng loạt các sự kiện chính trị trong khu vực xảy ra nhƣ cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, nguồn tài trợ ODA cho nền kinh tế Việt Nam tạm thời bị gián đoạn. Từ năm 1993, sau khi Việt Nam rút quân đội khỏi Campuchia, các tổ chức Tài chính quốc tế và những nhà tài trợ song phƣơng nối lại quan hệ, tài trợ cho Việt Nam nhiều hơn do chúng ta đã có những chính sách cải cách kinh tế phù hợp với yêu cầu phát triển chung của thế giới, điều này đƣợc khẳng định qua các hội nghị thƣờng niên của nhóm VCG. Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thanh Nghĩa với đề tài “Các nhà tài trợ ODA cho Việt Nam”, 2012, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội: Trong giai đoạn 1993-2004, nguồn vốn ODA đã đem lại những thanh tựu bƣớc đầu quan trọng.
Hàng trăm dự án ODA đã đƣợc đƣa vào thực hiện với tổng số vốn đƣợc ký kết với các nhà tài trợ lên đến 21,53 tỷ USD, đạt khoảng 72% tổng vốn ODA đã cam kết. Tổng số vốn giải ngân qua các năm trong giai đoạn 1993- 2004 đạt khoảng 14,83 tỷ USD. Đồng thời tình hình thực hiện các chƣơng trình, dự án ODA cũng đƣợc nhận định là đã có tiến triển, năm sau cao hơn năm trƣớc và tiến độ giải ngân hàng năm tăng dần đều. Cũng trong giai đoạn này, viện trợ không hoàn lại của Việt Nam đạt từ 14-18% trong tổng số ODA.
Qua đó cho thấy, tỷ lệ viện trợ không hoàn lại trên tổng vốn ODA cam kết mà 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việt Nam nhận đƣợc tƣơng đối thấp (mức bình quân thế giới là 25%, trƣờng hợp đặc biệt nhƣ Malaysia tỷ lệ này đạt 30%). Các nhà tài trợ ODA cho Việt Nam bao gồm: 29 nhà tài trợ song phƣơng, 19 đối tác đa phƣơng và 350 tổ chức Phi chính phủ nƣớc ngoài. Nhiều dự án ODA đã hoàn thành và đƣa vào sử dụng, góp phần tăng trƣởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ tích cực cho quá trình phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam (Lê Thanh Nghĩa, 2009). Theo Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ, các nhà tài trợ quốc tế đã cam kết hỗ trợ phát triển chính thức cho Việt Nam lên tới hơn 70 tỷ USD trong giai đoạn 2008-2015.
Tổng vốn ODA ký kết trong các điều ƣớc quốc tế cụ thể từ năm 2008 đến năm 2015 đạt trên 43,4 tỷ USD, chiếm khoảng 61,8% tổng vốn ODA cam kết, trong đó vốn vay ƣu đãi đạt 35,1 tỷ USD và chiếm khoảng 83,57%, vốn ODA không hoàn lại đạt 6,9 tỷ USD và chiếm khoảng 16,43%. Tổng nguồn vốn ODA giải ngân đạt 30,9 tỷ USD, chiếm trên 44,02% tổng vốn ODA ký kết. Cũng trong giai đoạn này, Việt Nam đã vạch ra chiến lƣợc sử dụng ODA, đó là ƣu tiên phát triển ngành giao thông vận tải và bƣu chính viễn thông.