CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về thị trường trái phiếu doanh nghiệp Tại Hoa Kỳ, nơi có nền tài chính lâu đời và phát triển lớn nhất thế giới, theo bản tin nhà đầu tư của Uỷ ban Giao dịch và Chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) xác định trái phiếu là một nghĩa vụ nợ, các nhà đầu tư mua trái phiếu doanh nghiệp nghĩa là đang cho công ty phát hành trái phiếu vay tiền. Đổi lại, công ty phát hành đưa ra cam kết pháp lý về việc trả tiền lãi và trả lại tiền gốc khi trái phiếu đáo hạn.
Công ty phát hành có thể sử dụng số tiền thu được từ việc bán trái phiếu cho nhiều mục đích khác nhau ví dụ như mua mới thiết bị, đầu tư nghiên cứu phát triển sản phẩm, mua lại cổ phiếu quỹ, trả cổ tức cho cổ đông, tái cấp vốn nợ hoặc tài trợ vốn cho việc mua bán và sáp nhập. Theo nghiên cứu của Collin (2003) thì: “Trái phiếu là một hợp đồng của người phát hành cam kết trả lại một khoản tiền đã vay vào một ngày nhất định và trả lãi định kỳ”. Trái phiếu là một khoản vay dài hạn của Chính phủ hay doanh nghiệp, trong đó bao gồm lãi suất cố định hay là lãi suất thả nổi theo giá bán (Brindley, 2008). Còn tại Việt Nam, theo định nghĩa tại Khoản 3 Điều 4 Luật chứng khoán Việt Nam số 54/2019/QH14 ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2019 thì: “Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần nợ của tổ chức phát hành (“TCPH”).
Tổ chức phát hành có trách nhiệm thực hiện các cam kết về thanh toán các khoản lãi suất định kỳ, đồng thời khi đáo hạn phải hoàn lại số tiền ban đầu về cho nhà đầu tư. Tổ chức phát hành có thể là chính phủ hoặc doanh nghiệp”. Bên cạnh đó, Khoản 1 Điều 4 Nghị định 153/2020/NĐ-CP có định nghĩa: “Trái phiếu doanh nghiệp là loại chứng khoán có kỳ hạn từ 01 năm trở lên do doanh nghiệp phát hành, xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần nợ của doanh nghiệp phát hành”. Người mua trái phiếu hay còn gọi là trái chủ không giống như người mua cổ phiếu là sẽ trở thành chủ sở hữu của công ty và nhận cổ tức khi công ty chi trả, trái chủ sẽ chỉ nhận được tiền lãi và gốc của trái phiếu bất kể công ty có lợi nhuận như nào.
Tuy nhiên nếu công ty phát hành gặp khó khăn về tài chính thì vẫn phải có nghĩa vụ pháp lý thanh toán tiền lãi và gốc trái phiếu đúng hạn. Trong trường hợp phá sản, các trái chủ có quyền ưu tiên hơn các cổ đông trong các yêu cầu về tài sản của công ty. Cũng tương 23 tự như đầu tư cổ phiếu, người mua trái phiếu cũng sẽ đối mặt với rủi ro khi nhà phát hành trái phiếu không thể thanh toán lãi và gốc đúng hạn, đây được gọi là rủi ro vỡ nợ hay nhà phát hành mất khả năng thanh toán trái phiếu. Tại các thị trường tài chính phát triển trên thế giới, TPDN là một trong những thị trường chiếm tỷ trọng lớn và quan trọng nhất trong TTTP nói chung bên cạnh trái phiếu chính phủ, trái phiếu kho bạc và trái phiếu đô thị.
TPDN có thể được phân loại theo thời gian đáo hạn, hay còn gọi là kỳ hạn. Bên cạnh đó TPDN còn được phân loại theo chất lượng tín dụng do các cơ quan xếp hạng tín dụng có thẩm quyền đánh giá dựa trên rủi ro về tổ chức phát hành có thể vỡ nợ với trái phiếu của mình. TPDN cũng được phân loại theo thời gian trả lãi định kỳ hàng tháng, định kỳ hàng quý, định kỳ hàng năm hoặc trả lãi một lần khi đáo hạn. Xét về tổng quan, thị trường TPDN chính là một cấu phần của thị trường chứng khoán nói chung.
Thị trường trái phiếu là nơi mà các trái phiếu được giao dịch mua và bán (Brindley, 2008). Theo Mizen và Tsoukas (2012) thì: “Cấu trúc thị trường trái phiếu doanh nghiệp bao gồm thị trường sơ cấp (thị trường phát hành lần đầu) và thị trường thứ cấp (thị trường mua đi bán lại)”. Cấu trúc của thị trường trái phiếu doanh nghiệp 1.Thị trường sơ cấp Thị trường trái phiếu sơ cấp còn có thể được hiểu là thị trường phát hành trái phiếu lần đầu, nơi mà các tổ chức phát hành là doanh nghiệp bán trái phiếu cho nhà đầu tư (“NĐT”) với mục đích huy động vốn. Tổ chức phát hành trái phiếu trên thị trường sơ cấp có thể thực hiện qua 02 hình thức (Nguyễn Thanh Phương, 2012): ❖ Phát hành trái phiếu riêng lẻ: Là hình thức phát hành trái phiếu không chào bán thông qua phương tiện thông tin đại chúng, chỉ được phép chào bán cho những khách hàng đáp ứng đủ điều kiện nhất định.
Trái phiếu phát hành theo hình thức riêng lẻ thường sẽ có số lượng NĐT tham gia mua ít và không được niêm yết trên thị trường tập trung. ❖ Phát hành trái phiếu ra công chúng: Là hình thức phát hành trái phiếu trong đó trái phiếu có thể chuyển nhượng mua bán rộng rãi ra công chúng cho một lượng lớn NĐT tham gia mua, bao gồm cả NĐT tổ chức và NĐT cá nhân. Phát 24 hành trái phiếu ra công chúng thường chịu sự quản lý của pháp luật và phải được sự chấp thuận của cơ quan quản lý về chứng khoán. Sau đợt chào bán trái phiếu ra công chúng, trái phiếu sẽ được giao dịch tập trung và niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán.
Trong mỗi đợt phát hành TPDN sơ cấp, các tổ chức phát hành luôn ưu tiên việc đảm bảo tối đa lượng trái phiếu phát hành thành công qua đó huy động đủ khối lượng vốn theo phương án phát hành đã đưa ra trước đó với tiêu chí nhanh nhất về thời gian và chi phí ít nhất. Tuy nhiên thì để đánh giá mỗi đợt phát hành trái phiếu có thành công hay không thì còn phải dựa vào các yếu tố xung quanh tại thời điểm đợt phát hành như lãi suất, mệnh giá, kỳ hạn của trái phiếu, khối lượng trái phiếu phát hành, có tài sản đảm bảo hay không, tính thanh khoản của trái phiếu đối với NĐT… Có 04 phương thức phát hành TPDN phổ biến hiện nay có thể liệt kê dưới đây (Nguyễn Thanh Phương, 2012): ❖ Bảo lãnh phát hành: Là phương thức bán trái phiếu doanh nghiệp cho nhà đầu tư mua trái phiếu thông qua tổ chức bảo lãnh phát hành hoặc tổ hợp bảo lãnh phát hành. Ở phương thức này, đơn vị bảo lãnh phát hành sẽ đứng ra thực hiện và nhận cam kết về các thủ tục chào bán trái phiếu, giúp đỡ TCPH chào bán trái phiếu, cam kết toàn bộ số trái phiếu được phát hành hoặc một phần trong số đó hoặc mua lại trái phiếu chưa được bán hết … ❖ Đấu thầu phát hành: Là phương thức lựa chọn nhà đầu tư đủ điều kiện trúng thầu mua trái phiếu đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp phát hành. ❖ Đại lý phát hành: Là phương thức doanh nghiệp phát hành ủy quyền cho một tổ chức khác thực hiện bán trái phiếu cho nhà đầu tư mua trái phiếu.
Chủ thể này chủ yếu là các ngân hàng, công ty chứng khoán có kinh nghiệm trong việc tư vấn phát hành chứng khoán, có mạng lưới khách hàng rộng lớn và mối quan hệ với cơ quan quản lý, tổ chức kinh tế lớn, do đó doanh nghiệp thực hiện phát hành trái phiếu qua phương thức này thường có tỷ lệ thành công cao. ❖ Bán trực tiếp cho nhà đầu tư: Hay còn có thể hiểu là TCPH tự phát hành trái phiếu trực tiếp tới nhà đầu tư mà không thông qua một đơn vị trung gian nào. Theo lý thuyết tại các TTCK phát triển thì những doanh nghiệp đã có kinh nghiệm phát hành trái phiếu và được xếp thứ hạng cao sẽ hay dùng phương thức này vì 25 tiết kiệm chi phí phát hành đối với các đợt phát hành trái phiếu có giá trị lớn hoặc đã xác định được cụ thể người mua trái phiếu.Thị trường thứ cấp Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch mua đi bán lại TPDN của các nhà đầu tư sau khi TPDN được phát hành lần đầu trên thị trường sơ cấp. Các giao dịch trên thị trường thứ cấp được thực hiện theo 02 hình thức: tập trung và phi tập trung (Nguyễn Thanh Phương, 2012).
❖ Giao dịch tập trung Là hình thức niêm yết và giao dịch tập trung các TPDN được phát hành tại sàn giao dịch của SGDCK. Những trái phiếu giao dịch tập trung sẽ được quản lý bởi các cơ quan quản lý và tuân thủ theo các nguyên tắc của hệ thống giao dịch niêm yết. Điều này giúp đảm bảo sự an toàn và minh bạch về quyền lợi và nghĩa vụ của NĐT cũng như là TCPH. ❖ Giao dịch phi tập trung Thị trường giao dịch phi tập trung hay còn gọi là thị trường giao dịch OTC (Over The Counter).
Các giao dịch TPDN tại OTC chủ yếu được thực hiện và mua bán bằng tiền mặt và chuyển khoản, những TPDN này sẽ được giao nhận thông qua chứng chỉ bằng giấy được phát hành bởi TCPH hoặc phát hành bởi đại lý phát hành.Phân loại trái phiếu doanh nghiệp Mỗi tổ chức có những tiêu chí riêng để phân loại TPDN, tuy nhiên Uỷ ban Giao dịch và Chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) phân loại TPDN theo 04 loại chính (Kimberly Amadeo, 2022): ❖ Theo kỳ hạn o Trái phiếu kỳ hạn ngắn: đây là những trái phiếu có kỳ hạn từ 03 năm trở xuống. o Trái phiếu kỳ hạn trung bình: đây là những trái phiếu có kỳ hạn từ 04 đến 10 năm. o Trái phiếu kỳ hạn dài: đây là những trái phiếu có kỳ hạn trên 10 năm. ❖ Theo mức độ rủi ro 26 Các trái phiếu được đánh giá mức độ rủi ro thông qua việc chấm điểm tín dụng bởi các tổ chức xếp hạng tín dụng.
Trên thế giới có 03 tổ chức xếp hạng tín dụng lớn là Standard and Poor’s (S&P), Moody’s và Fitch Group. Tuỳ theo mỗi tổ chức có các thang điểm đánh giá xếp hạng tín dụng khác nhau, nhưng tổng thể chia thành 03 loại: o Mức độ rủi ro thấp: đây đều là nhóm doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tốt, có sức khoẻ tài chính ổn định và hầu như không có khả năng phát sản. Những trái phiếu ở mức độ rủi ro thấp thường có mức lãi suất tương đối thấp. o Mức độ rủi ro trung bình: đây đều là trái phiếu phát hành bởi những doanh nghiệp hoạt động ổn định nhưng vẫn có khả năng phá sản.
Lãi suất của những trái phiếu này sẽ ở mức trung bình.