Chương 1- Đề tài của tiểu thuyết Bão biển (Chu Văn) và Đất vỡ hoang (Sôlôkhôp) Chương 2-Cốt truyện trong Bão biển (Chu Văn)và Đất vỡ hoang (Sôlôkhôp) Chương 3 -Thế giới nhân vật trong Bão biển (Chu Văn)và Đất vỡ hoang(Sôlôkhôp) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 19 http://www.vn NỘI DUNG CHƢƠNG 1- ĐỀ TÀI CỦA TIỂU THUYẾT “ BÃO BIỂN ” ( CHU VĂN ) VÀ “ ĐẤT VỠ HOANG ” ( SÔLỐ KHỐP ) 1. Chu Văn và Bão biển Chu Văn tên khai sinh là Nguyễn Văn Chữ, sinh ngày 22/12/1922 tại quê gốc xã Trực Hội, Huyện Thái Ninh ( nay là Đông Hưng ), Tỉnh Thái Bình trong một gia đình nhà Nho nghèo. Thuở nhỏ, Chu Văn sống ở quê. Ông sớm được học chữ Hán từ nhỏ.
Cụ thân sinh của Chu Văn là nhà Nho nghèo, từng đi thi Hương nhưng không đỗ. 14 tuổi, Chu Văn mồ côi cha, gia đình túng thiếu, ông phải bỏ học, giúp mẹ làm ruộng. Mẹ ông vốn là con nhà Nho và giỏi chữ Hán – Nôm. Do đó, thời gian sống với mẹ, Chu Văn đã được tiếp nhận vốn Hán – Nôm khá phong phú và các tác phẩm Nôm kinh điển như: Truyện Kiều, Nhị độ mai, Tống Trân Cúc Hoa, Phan Trần… Đó cũng là ngọn nguồn nghệ thuật thắp sáng cho tài năng của Chu Văn về sau.
Chu Văn cũng từng theo học chữ Hán ở một thầy đồ và học thêm chương trình trung học, đọc các sách báo tiếng Việt. Sau vài lần đến Hải Phòng, Nam Định tìm việc làm, được tiếp xúc với nhiều người có tư tưởng tiến bộ, Chu Văn có cảm tình với cách mạng. Ông đã tìm đọc sách báo tiến bộ rồi trở về hoạt động Việt Minh ở địa phương. Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông tham gia cướp chính quyền ở huyện nhà, sau đó phụ trách xã, làm cán bộ huyện, tỉnh với các hoạt động thanh niên, dân vận, địch vận, tuyên huấn ở Thái Bình và liên khu III.
Từ năm 1950, ông phụ trách toà soạn báo Cứu quốc liên khu III. Từ 1957, Chu Văn chuyển về công tác ở Nam Định, là trưởng ty văn hoá Nam Định. Năm 1969, ông tình nguyện đi chiến trường B. Từ 1977 – 1979, ông là chủ tịch Hội văn nghệ Hà Nam Ninh.
Ông cũng là uỷ viên Ban chấp hành Hội nhà văn khoá III. Trải qua bước đầu viết báo, viết kịch, làm thơ, từ năm 1955, Chu Văn đi thẳng vào văn xuôi với những truyện ngắn đầu tiên đăng tải trên các báo: Cứu quốc, Văn nghệ Những sáng tác tiêu biểu của Chu Văn có thể kể đến : Ai qua Phát Diệm - Truyện thơ; Cô gái làng Dương - Kịch ; các tập truyện ngắn: Cô lái đò sông Ninh, Ánh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 20 http://www.vn sáng bên hàng xóm, Hương cam – Hoa lim ,Mùa chim phượng bay về ; Tiếng hát trên sông - Tập bút ký ; tiểu thuyết gồm có: Bão biển, Đất mặn , Sao đổi ngôi, Giáp mặt. Trong gần 20 năm đảm nhiệm trọng trách về văn hoá của tỉnh Hà Nam, sự nghiệp văn học của Chu Văn gắn liền với địa bàn quen thuộc – vùng châu thổ sông Hồng. Với các đề tài lịch sử, kháng chiến, xây dựng chủ nghĩa xã hội, sáng tác của ông thể hiện rõ “ đó là một kẻ sĩ - một cây bút có bản lĩnh ” (Nguyễn Bính).
Ngoài ra, Chu Văn còn tham gia chủ biên nhiều cuốn sách sưu tầm, nghiên cứu danh nhân lịch sử, danh nhân văn học từ cổ điển đến hiện đại. Cuộc đời và sự nghiệp văn chương của ông có nhiều đóng góp ý nghĩa cho cách mạng Việt Nam.Với những công lao đóng góp cho cách mạng, cho văn học nước nhà, Chu Văn đã được tặng huân chương Độc lập hạng ba ( 1988 ). Ông mất ngày 17/7/1994 tại Hà Nội. * Tiểu thuyết Bão biển của Chu Văn Bão biển được viết năm 1965, đến 1969 ra mắt bạn đọc.
Tác phẩm ra đời trong bối cảnh đất nước ta có nhiều biến cố lịch sử trọng đại, tác động sâu sắc tới mọi mặt của đời sống xã hội và con người. Cách mạng tháng Tám và hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cuộc cách mạng ruộng đất những năm 1953 - 1955, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc với phong trào hợp tác hoá nông nghiệp diễn ra rầm rộ vào những năm sáu mươi cùng với công cuộc xây dựng đất nước theo mô hình chủ nghĩa xã hội(XHCN). Đó là những biến đổi lịch sử quan trọng. Tất cả những sự kiện ấy đã tác động mạnh mẽ đến đời sống tinh thần của Việt Nam.
Đề cương văn hoá Việt Nam 1943 của Đảng cộng sản Đông Dương đã xác định văn hoá là một mặt trận quan trọng của cuộc đấu tranh cách mạng. Phương châm xây dựng nền văn hoá mới của Đảng ta là: Dân tộc, khoa học, đại chúng. Văn hoá dân tộc, đặc biệt là các giá trị văn hoá của quần chúng lao động được coi trọng và phát huy cùng với việc tiếp nhận văn hoá xã hội chủ nghĩa của Liên Xô, Trung Quốc.Bão biển cũng là kết quả của việc thấm nhuần tư tưởng ấy của ChuVăn. Mặt khác, trong những năm 60 của thế kỷ XX, văn học Việt Nam phát triển mạnh mẽ một phần là do được giao lưu với nền văn học của hệ thống xã hội chủ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 21 http://www.vn nghĩa trên thế giới.
Quan hệ giao lưu thường xuyên giữa văn học Liên xô và Việt Nam đã trở thành một trong những đặc điểm chính của tiến trình văn học Việt Nam. Điều đó thể hiện trước hết ở việc các nhà văn Việt nam tích cực tiếp nhận kinh nghiệm sáng tác của các đồng nghiệp Liên xô. Kinh nghiệm của văn học Xô Viết đã có ảnh hưởng quan trọng trong sự hình thành bộ mặt tinh thần và sáng tạo của các nhà văn Việt Nam, thúc đẩy sự khẳng định những nguyên tắc tư tưởng, nghệ thuật trong văn học Việt Nam. Sự tiếp nhận ấy là do nhu cầu nội tại của bản thân văn học Việt Nam và do những đặc điểm vận động của nó.
Bão biển của Chu Văn đã ra đời đáp ứng nhu cầu tất yếu của xã hội, của đất nước trong những năm đầu xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Bão biển thu hút được sự chú ý của bạn đọc ngay từ khi mới ra đời. Tác phẩm đề cập đến những vấn đề phức tạp của đời sống hàng ngày trong một giai đoạn lịch sử quan trọng. Từ những việc, những người, nhiều mặt mà tác giả quen thuộc ở một địa phương, những sự kiện chứa đựng mâu thuẫn đối kháng gay gắt về tâm lý, về nhận thức.
diễn ra liên tục, lúc sục sôi, lúc lắng xuống, quyện vào nhau làm nổi bật các nhân vật với những khía cạnh tinh thần, tình cảm, vật chất của họ, với những thành kiến, tập quán ăn sâu vào họ bao đời đã được Chu Văn phản ánh trong tác phẩm. Khám phá một vùng hiện thực khá đặc biệt – nông thôn công giáo với những màu sắc riêng , đồng thời cũng là hiện thực nông thôn Việt Nam trước những thay đổi lớn lao của lịch sử, qua sự thẩm định của thời gian, Bão biển được khẳng định như một thành tựu mới nổi bật của văn học chống Mỹ, có giá trị lịch sử. Sự tinh tế, nhạy cảm của tác giả khi tiếp cận với hiện thực đã bóc tách được nhiều điều có ý nghĩa từ trong bộn bề, sinh động của đời thực. Tác phẩm không chỉ là tấm gương phản chiếu hiện thực đơn thuần, mà trở thành bức tranh có hồn đầy sức sống với những chiêm nghiệm về lẽ sống và tình người.
Với một vốn hiểu biết phong phú về cuộc sống qua những năm kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội, một bút pháp hiện thực chặt chẽ vừa có khả năng dựng những bức tranh xã hội, vừa có khả năng đi sâu vào những số phận cá nhân, khắc hoạ tính cách nhân vật, Chu Văn đã góp cho nền tiểu thuyết xã hội chủ nghĩa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 22 http://www.vn Việt Nam một tác phẩm có giá trị. Và Bão biển trở thành một mốc son quan trọng trong văn nghiệp của Chu Văn. Sôlôkhôp và Đất vỡ hoang Sôlôkhôp sinh ngày 24-5-1905 tại thôn Krudilin, thị trấn Vêvenxcơ thuộc tỉnh Rôxtôp - một vùng thảo nguyên tươi đẹp. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình mà cha mẹ đều là những người lao động bình dị và có tư chất đặc biệt, Sôlôkhôp sớm có điều kiện để phát triển tư duy và nhân cách.
Tinh thần yêu tự do chống lại nếp sống Cô dắc bảo thủ và lạc hậu của cha mẹ Sôlôkhôp sau này được in dấu sâu đậm trong các nhân vật của nhà văn. Cha ông là người ham học hỏi, thích đọc sách. Ông đã truyền cho con trai ý chí và tinh thần tự học. Lòng nhân hậu, trí tuệ thông minh và giàu nghị lực của mẹ là tấm gương lớn ảnh hưởng đến nhà văn.
Thuở nhỏ, Sôlôkhôp học ở trường tiểu học nhà dòng rồi học trung học ở quê nhà và một trường tư ở Maxtcơva, sau bỏ học vì gia cảnh túng thiếu. Nội chiến bùng nổ năm 1918, Sôlôkhôp tình nguyện tham gia cách mạng ở địa phương. Hăng hái tham gia cách mạng tuyên truyền cổ động trong nhân dân, Sôlôkhôp tham gia diễn kịch và sáng tác kịch để cổ vũ cho công tác tuyên truyền của Đảng. Ông cũng đã trải qua nhiều nghề lao động vất vả như: kế toán, khuôn vác, thợ nề…để kiếm sống.
Thời gian ở Maxtcơva Sôlôkhôp đã tìm kiếm những mối quan hệ văn chương và sáng tác văn chương. Năm 1925, Sôlôkhôp trở về quê, lập gia đình và tham gia nhiều công tác xã hội, có nhiều đóng góp cho công tác Đảng và chính quyền ở địa phương từ năm 1932. Chiến tranh vệ quốc bùng nổ (1941 - 1945 ), Sôlôkhôp tham gia chiến đấu trên nhiều mặt trận. Sau chiến tranh Sôlôkhôp tiếp tục sáng tác văn chương.
Năm 1975, Sôlôkhôp được tặng huân chương “ Vì sự nghiệp hoà bình ” trong lĩnh vực văn hoá. Sinh ra và lớn lên trong một thời kỳ lịch sử đầy biến động ( nội chiến, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội , cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại ), Sôlôkhôp đã khẳng định được tài năng của mình với một sự nghiệp văn học đồ sộ và mang tính nhân bản cao. Là một tài năng thiên bẩm song con đường sáng tạo nghệ thuật của Sôlôkhôp cũng trải qua nhiều chông gai, thử thách. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 23 http://www.