CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp và xu hướng sử dụng trên Thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp và xu hướng sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới 1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới Ngày nay khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển như vũ bão, song với những thách thức về an ninh lương thực, dân số, môi trường sinh thái thì nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất lương thực, thực phẩm cơ bản đối với loài người.
Trên thế giới, tuy nền sản xuất nông nghiệp của các nước phát triển không giống nhau, nhưng tầm quan trọng đối với đời sống con người thì quốc gia nào cũng thừa nhận, và coi sản xuất nông nghiệp là cơ sở nền tảng của sự phát triển. Dân số tăng nhanh kéo theo nhu cầu con người ngày càng lớn, để đảm bảo an ninh lương thực loài người phải tăng cường các biện pháp khai hoang đất đai. Do đó đã phá vỡ cân bằng sinh thái của nhiều vùng, đất đai bị khai thác triệt để. Kết quả là hàng loạt diện tích đất bị thoái hoá trên phạm vi toàn cầu, trong đó có đất nông nghiệp bị suy thoái, biến chất, ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng nông sản (Nông Quốc Thái, 2012) [18].
Tài nguyên đất có hạn, đất có khả năng canh tác càng ít ỏi. Toàn lục địa trừ diện tích đóng băng vĩnh cửu (1.360 triệu héc-ta) chỉ có 13.340 triệu héc-ta. Trong đó phần lớn có nhiều hạn chế cho sản xuất do quá lạnh, khô, dốc, nghèo dinh dưỡng, hoặc quá mặn, quá phèn, bị ô nhiễm, bị phá hoại do hoạt động sản xuất hoặc do bom đạn chiến tranh. Diện tích đất có khả năng canh tác của lục địa chỉ có 3.030 triệu héc-ta.
Hiện nhân loại mới khai thác được 1.500 triệu héc-ta đất canh tác. Bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người của thế giới hiện nay chỉ còn 0,23 ha, ở nhiều quốc gia châu Á Thái Bình Dương là dưới 0,15 ha. Theo tính toán của tổ chức lương thực thế giới (FAO) với trình độ sản xuất trung bình như hiện nay trên thế 5 giới để có đủ lương thực, thực phẩm thì mỗi người cần có 0,4 ha đất canh tác (Lê Thái Bạt, 2009) [2]. Ngày nay do sức ép của bùng nổ dân số và phát triển theo hướng công nghiệp hóa, đô thị hóa, con người đã khai thác đất đai quá mức, nhiều quốc gia đang phải đối mặt với thoái hóa đất và hoang mạc hóa, đất bị thoái hóa có ở khắp nơi trên thế giới: châu Á chiếm 38%; châu Âu 11,1%; châu Mỹ 20,5%; châu Phi 25,2%;châu Đại Dương 5,2%.
Thoái hóa đất có nhiều dạng và do nhiều nguyên nhân gây ra. Các dạng thoái hóa: xói mòn nước chiếm 55%; xói mòn gió chiếm 28%;… Tác động của con người như chặt phá rừng 29,5%; chăn thả quá mức 34,5%; quản lý kém 28%; hoạt động công nghiệp 1,2% (Nguyễn Đình Bồng, 1995) [3]. Thoái hoá môi trường đất có nguy cơ làm giảm 10-20% sản lượng lương thực thế giới trong 20 năm tới. Khoảng 1,2 tỷ người của hơn 110 nước đang bị đe doạ bởi vấn đề này (Nguyễn Quốc Vọng, 2006) [20].
Ngoài ra thoái hóa đất còn là mối nguy cơ phá hoại các nguồn tài nguyên và sinh thái, làm mất đa dạng sinh học và các nguy cơ khác. Đất nông nghiệp giảm cả về số lượng và chất lượng do hoạt động khai thác và sử dụng bừa bãi, không có khoa học của con người. Nhiều vùng đất trên thế giới đã trở thành sa mạc không thể canh tác được, các hệ sinh thái đất khô cằn rất nhạy cảm với việc khai thác quá mức và sử dụng đất không hợp lý. Báo cáo của Viện Tài nguyên thế giới cho thấy gần 20% diện tích đất đai châu Á bị suy thoái do những hoạt động của con người.
Trong đó hoạt động sản xuất nông nghiệp là một nguyên nhân không nhỏ làm suy thoái đất. Xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới Theo Đường Hồng Dật (1994) [4], trong quá trình phát triển nông nghiệp, mỗi nước đều chịu những ảnh hưởng khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của mỗi vùng nhưng đều có điểm chung là cùng giải quyết các vấn đề sau: - Nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và tăng hiệu quả đầu tư trong nông nghiệp. 6 - Chiều hướng chung là đầu tư nhiều lao động trí óc, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, giảm lao động chân tay, tăng cường hiệu quả của lao động quản lý và tổ chức. - Mối quan hệ giữa phát triển nông nghiệp và môi trường.
Từ những mục đích trên tuỳ thuộc vào sự đầu tư và chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, nên sự phát triển nông nghiệp của mỗi nước khác nhau và có thể chia làm hai xu hướng: - Nông nghiệp công nghiệp hoá - Nông nghiệp sinh thái Gần đây nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu nền nông nghiệp bền vững, đó là một dạng của nông nghiệp sinh thái với mục tiêu sản xuất nông nghiệp đi đôi với giữ gìn bảo vệ môi trường đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững, lâu dài. Trong những năm qua, cùng với sự phát triển thành công về sản xuất nông nghiệp và tăng trưởng về mức sống, nhiều nước đã đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng và đa dạng hoá sản xuất. Như: Philipin năm 1987-1992 chính phủ đã có chiến lược chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đa dạng hoá cây trồng nhằm thúc đẩy nông nghiệp phát triển; Thái Lan những năm 1982-1996 đã có những chính sách đầu tư phát triển nông nghiệp; Ấn Độ kể từ thập kỷ 80, khi sản xuất lương thực đã đủ đảm bảo an ninh lương thực thì các chính sách phát triển nông nghiệp của chính phủ cũng chuyển sang đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đa dạng hoá sản xuất, phát triển nhiều cây trồng ngoài lương thực. Từ những bài học của lịch sử phát triển nông nghiệp, những thành tựu đạt được của khoa học công nghệ, ở giai đoạn hiện nay muốn đưa nông nghiệp đi lên phải xây dựng và thực hiện một nền nông nghiệp trí tuệ, bởi vì tính phong phú đa dạng và đầy biến động của nông nghiệp đòi hỏi những hiểu biết, và xử lý một cách biện chứng.
Nông nghiệp trí tuệ là bước phát triển mới ở mức cao, là sử dụng đất kết hợp ở đỉnh cao của các thành tựu sinh học, công nghiệp, kinh tế, quản lý được vận dụng phù hợp và hợp lý vào điều kiện cụ thể của mỗi nước, mỗi vùng. Đó là nền nông nghiệp phát triển toàn diện và bền vững. Tình hình sử dụng và xu hướng phát triển nông nghiệp ở Việt Nam 1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam Việt Nam là một trong những nước có diện tích tự nhiên nhỏ, trong đó có tới 2/3 diện tích là đất đồi núi dốc, còn lại 1/3 là đồng bằng.
(Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2014), tổng diện tích tự nhiên của nước ta là 330.972,4 km 2 , dân số là 90.493,352 nghìn người (đứng thứ 13 trên thế giới và thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á), mật độ dân số là 273 người/km 2. Bình quân diện tích đất tự nhiên 3,657 m 2 /người. Trong đó đất nông nghiệp 26. Bình quân diện tích đất nông nghiệp trên người là 2,964 m 2 /người.
Thực tế mấy năm trở lại đây, cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp lại do chuyển sang xây dựng đô thị và các khu công nghiệp. Làm cho bình quân diện tích đất nông nghiệp trên người giảm mạnh, là thách thức to lớn đối với sự phát triển nông nghiệp bền vững ở nước ta. Thoái hoá đất đang là xu thế phổ biến đối với nhiều vùng rộng lớn ở nước ta, đặc biệt là vùng rừng núi, nơi tập trung ¾ quỹ đất. Nguyên nhân suy thoái chủ yếu do phương thức canh tác nương rẫy còn thô sơ, lạc hậu của các dân tộc thiểu số, tình trạng chặt phá đốt rừng bừa bãi, khai thác tài nguyên khoáng sản không hợp lý, lạm dụng các chất hữu cơ trong sản xuất, việc triển khai các công trình giao thông, nhà ở khu đô thị mới, ô nhiễm do phân bón, hoá chất bảo vệ thực vật, chất thải, nước thải đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, sản xuất dịch vụ … Sự suy thoái môi trường đất kéo theo sự suy giảm các quần thể động, thực vật và giảm diện tích đất nông nghiệp (Lê Hải Đường, 2007) [6].
Ở Việt Nam hiện có 16,7 triệu héc-ta đất bị xói mòn, rửa trôi mạnh, chua nhiều, 9 triệu héc-ta đất có tầng mỏng và độ phì thấp, 3 triệu héc-ta đất thường bị khô hạn và sa mạc hóa, 1,9 triệu héc-ta đất bị phèn hóa, mặn hóa mạnh. Ngoài ra tình trạng ô nhiễm do phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật, chất thải, nước thải đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, sản xuất, dịch vụ và chất độc hóa học để lại sau chiến tranh cũng 8 đáng báo động. Hoạt động canh tác và đời sống còn bị đe dọa bởi tình trạng ngập úng, ngập lũ, lũ quét, đất trượt, sạt lở đất, thoái hóa lý, hóa học đất. Đây thực sự là những vấn đề đáng lo ngại và thách thức lớn với một nước nông nghiệp như nước ta hiện nay.
Vì vậy đối với đất nông nghiệp nước ta hiện nay khi sử dụng cần đảm bảo các nguyên tắc đã được nêu tại Điều 11 Luật đất đai năm 2003 có 3 nguyên tắc phải đảm bảo khi sử dụng đất: (1) Đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất; (2) Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh; (3) Người sử dụng đất phải thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng đất theo quy định của Luật này và các quy định khác có liên quan. Mỗi địa phương cần phải có các quan điểm đúng đắn theo xu hướng tiến bộ, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể và điều kiện của địa phương để làm cơ sở cho việc sử dụng đất hiệu quả, bền vững về mặt kinh tế, xã hội, môi trường. Sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta hiện nay cần hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu.