Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về cây dưa lưới 1. Vị trí phân loại của cây dưa lưới Tên khoa học: Cucumis melo L. - Giới (Kingdom): Plantea - Ngành (Division): Angiospermatophyta - Lớp (Class) : Dicotyledoneae - Bộ (Ordo): Cucurbitales - Họ (Familia): Cucurbitaceae - Chi (Genus): Cucumis L - Loài (Species): Cucumis melo L.
Nguồn gốc và sự phân bố Dưa lưới (Cucumis melo L.) thuộc họ bầu bí (Cucurbitaceae) là rau ăn quả có thời gian sinh trưởng ngắn, trồng được nhiều vụ trong năm với năng suất khá cao. Nguồn gốc cây dưa lưới cũng chưa thực sự rõ ràng (Robinson and Decker Walters D. Nhiều tác giả cho rằng nguồn gốc cây dưa lưới ở miền tây Châu Phi. Sau đó được truyền lan sang Châu Á, rồi du nhập đến các nước Châu Âu.
Cuối cùng nhà thám hiểm Columbus đã đưa cây trồng này đến Châu Mỹ, ở đây nó được phát triển nhanh chóng và hàng loạt các giống dưa mới đã ra đời. Dưa lưới được trồng ở Anh vào thế kỷ 17 và đến thế kỷ 18 được trồng ở Châu Mỹ. Theo Kerje và Grum năm 2000 và nhiều nhà nghiên cứu khác cho rằng dưa lưới là cây trồng nhiệt đới, loài cổ đại có nguồn gốc từ Châu Phi. Trung tâm đa dạng nguồn gen sơ cấp và thứ cấp nằm từ Đông Á đến Biển địa trung Hải (Afganistan, Iran, Irắc, Ả rập xê út, Thổ Nhĩ Kỹ, Trung Quốc, Liên Bang Nga, Ấn Độ).
Hạt giống của giống dưa dại C. agrestis được trồng ở Châu phi và đưa vào vùng Trung Đông (Thổ Nhĩ Kỳ, Irac, Iran) và Châu Á (Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản) thông qua con đường buôn bán đường biển hoặc đất liền. Dưa lưới được trồng tại Trung Quốc 3 và Iran từ cách đây 3.000 năm trước và ở Ấn Độ 2000 năm trước, ở Ai Cập 1500 năm trước công nguyên và ở phía Tây Nhật Bản vào 100 năm trước công nguyên. Đặc điểm thực vật học Dưa lưới là một loại trái cây mùa hè rất phổ biến.
Dưa lê thuộc loại cây nhất niên, là cây thân thảo, thân bò trên mặt đất hoặc leo. Thân mảnh có thể dài đến 3m, phủ lông mịn, có các tua và góc cạnh ở mặt cắt ngang, có nhiều nhánh gần gốc, nhám với nhiều lông mềm. Hệ rễ cạn, đa số phân bố chủ yếu ở độ sâu 30 - 40 cm, một phần kéo dài đến 1m. Rễ bất định có thể phát sinh từ nốt lá.
Lá xếp xen kẽ, không có lá kèm, cuống lá dài 4 đến 10 cm, phiến lá có thể hình tròn, hình oval hoặc hình thận, đường kính 3 đến 15 cm, lá hình chân vịt có 5 đến 7 thùy, bề mặt phủ lông mịn. Hoa mọc ở nách lá, là hoa đơn tính hoặc lưỡng tính, cuống dài 0,5 đến 3 cm, lá đài dài 6 đến 8 mm. Tràng hoa hình chuông, hoa màu vàng. Hoa đực mọc thành chùm 2 đến 4 hoa với 3 nhị.
Hoa cái hoặc hoa lưỡng tính mọc đơn, bầu nhụy hình ellipsoid, đầu nhụy có 3 thùy. Cây thường ra hoa vào tháng bảy đến tháng chín, hạt chín từ tháng tám đến tháng mười. Quả hình tròn hoặc hình thuôn, nặng trung bình 0,4 đến 2,2 kg, bề mặt có vân lưới hoặc bao phủ bởi các sợi lông tơ nhỏ. Kích thước quả tùy thuộc theo giống.
Thịt quả có màu vàng hoặc cam, trắng… Thịt quả có thể làm khô, xay thành bột trộn với ngũ cốc làm bánh mì, bánh qui… Quả mọng nước có vị thanh. Quả nhiều hạt, hạt có hình e líp, màu trắng hoặc vàng nâu, trơn nhẵn, hạt có hàm lượng dầu cao, tuy nhiên khó sử dụng vì lớp vỏ cứng. Trong hạt chứa khoảng 12,5 đến 39,1% dầu. Dưa phát triển tốt trong điều kiện khí hậu ấm và khô, nhiều ánh sáng.
Nhiệt độ phát triển tối ưu từ 18 – 28oC, phát triển chậm khi nhiệt độ dưới 12oC. Dưa có thể chịu được nhiệt độ lên tới 40oC nhiều giờ mỗi ngày. Cây dễ chết trong điều kiện sương giá. Độ ẩm cao làm cây chậm phát triển, ảnh hưởng đến chất lượng quả và gây ra các bệnh trên lá.
Cây phát triển tốt trên đất nhiều mùn, pH 6 – 7, không chịu được đất quá acid và úng nước.1 Đặc điểm thực vật học của cây dưa lưới 5 1. Giá trị dinh dưỡng Giống như nhiều loại trái cây và rau quả khác dưa lưới có thành phần chủ yếu là nước. Một cốc khối tươi có 144 calo, 6% lượng chất xơ hàng ngày của bạn, không có chất béo và cholesterol. Hàm lượng đường và hương vị là những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng của dưa.
Các ester hình thành từ các amino acid, các hợp chất chứa lưu huỳnh là các thành phần quan trọng góp phần tạo hương vị cho dưa. Rượu và aldehyde 9 carbon bao gồm Z-non-6-enal là những thành phần quan trọng tạo nên hương thơm của dưa. Dưa nên được thu hoạch từ 2 đến 3 ngày trước khi chín nhằm thu được hương vị ngon nhất. Hạt dưa ăn được chứa khoảng 46% dầu và 36% protein.
Dưa lưới là nguồn chứa chất chống oxi hóa dạng polyphenol, là chất có lợi cho sức khỏe giúp phòng chống bệnh ung thư và tăng cường hoạt động miễn dịch. Các chất này điều tiết sự tạo thành nitric oxide, một chất quan trọng đối với nội mạc và các nguy cơ về bệnh tim mạch. Dưa lưới chứa nhiều chất xơ nên có tác dụng nhuận trường, chống táo bón. Đây còn là nguồn phong phú β-carotene, acid folic, kali và vitamin C, A.
Nguồn kali trong dưa giúp bài tiết, thải muối nên ăn dưa lưới có tác dụng giảm cao huyết áp. Dưa lưới là loại thực phẩm chứa ít carbs với 90% là nước và có vị ngon ngọt như một quả dưa hấu. Lượng chất lỏng cao mang lại cho dưa lưới điểm số tải trọng đường huyết thấp là 4. Điều đó có nghĩa là cơ thể bạn tiêu hóa nó chậm và nó sẽ không làm cho lượng đường trong máu của bạn tăng đột biến.
Vì vậy, nó là một lựa chọn tuyệt vời cho những người bị bệnh tiểu đường. Dưa lưới chứa nhiều chất điện giải thúc đẩy quá trình hydrat hóa trong cơ thể bạn. Những khoáng chất này cân bằng chất lỏng cơ thể trong cơ thể của bạn và giữ cho nó hoạt động bình thường. Điều đó giúp bạn luôn đủ nước và tràn đầy năng lượng.1 Giá trị dinh dưỡng của dưa lưới Giá trị dinh dưỡng 100 g (3,5 oz) Chất dinh dưỡng Lượng dinh dưỡng Năng lượng 141 kJ (34 kcal) Các bon hyđrát 8,16 g Đường 7,86 g Chất xơ thực phẩm 0,9 g Chất béo 0,19 g Protein 1,84 g Nước 90,15 g Vitamin A 169 μg (19%) beta-carotene 2020 μg (19%) Thiamine (Vit.
B1) 0,041 mg (3%) Riboflavin (Vit. B2) 0,019 mg (1%) Niacin (Vit. B3) 0,734 mg (5%) Axít pantothenic (B5) 0,105 mg (2%) Vitamin B6 0,072 mg (6%) Axít folic (Vit. B9) 21 μg (5%) Vitamin B12 0,00 μg (0%) Vitamin C 36,7 mg (61%) Vitamin E 0,05 mg (0%) Vitamin K 2,5 μg (2%) Can xi 9 mg (1%) Sắt 0,21 mg (2%) Ma giê 12 mg (3%) Phốt pho 15 mg (2%) Thiếc 0,18 mg (2%) Tỷ lệ phần trăm theo lượng hấp thụ thường nhật của người lớn.
Nguồn: Cơ sở dữ liệu USDA 7 Đặc biệt dưa lưới có thể giúp chống lại nhiều loại bệnh từ tim mạch, tiểu đường, huyết áp cho đến các bệnh về mắt. Trong dưa vàng cũng chứa nhiều các hợp chất chống viêm cùng các chất chống oxy hóa với hàm lượng cao chống lại quá trình hình thành tế bào ung thư từ các gốc tự do. Ngoài ra các vitamin và khoáng chất có trong chúng hỗ trợ tái tạo và phục hồi cấu trúc da, tóc giúp chúng trở nên khỏe mạnh và tươi trẻ. Lượng chất xơ dồi dào trong dưa lưới cũng hỗ trợ rất nhiều cho quá trình tiêu hóa của mỗi người.
Tình hình dịch hại trên cây dưa 1. Tình hình dịch hại cây dưa trên thế giới Bọ trĩ, bù lạch: Tên khoa học: (Thrips sp.): Có phổ ký chủ rộng, gây hại trên 36 họ cây trồng bao gồm: họ cà, họ hành tỏi, họ bầu bí, họ cúc, họ đậu, cây lúa, cây bông… Đặc biệt gây hại nặng trên các cây thuộc họ bầu bí và họ cà. Gây hại mạnh trong thời tiết nóng khô, mùa mưa bọ trĩ gây hại nhẹ hơn. Bọ phấn: Tên khoa học: (Bemisia myricae): Hoạt động mạnh mẽ vào thời điểm sáng sớm và chiều mát trong ngày.
Chích hút nhựa cây là chủ yếu, chúng gây hại mạnh chủ yếu ở các bộ phận ngọn và lá non, khiến lá bị đốm hoặc các vệt màu vàng. Chúng thường ẩn nấp dưới các tán lá, nếu động thì sẽ bay lên cao sang chỗ khác. Rầy mềm, rệp: Tên khoa học: (Gossypii glover): Chúng tập trung chủ yếu ở dưới mặt lá với số lượng lớn. Gây hại bằng cách chích hút nhựa các bộ phận như đọt non, bông, chồi khiến cho các bộ phận đó bị héo khô hoặc thâm đen trên mặt lá.
Nhện đỏ: Tên khoa học (Oligonychus sp.): Chúng tập trung ở tán lá đã chuyển qua màu xanh. Gây hại bằng cách chích hút dịch lá và trái làm có màu xám bạc hoặc màu đồng, đối với trái thì vỏ trái sẽ bị sần sùi mà người ta hay gọi là da cám. Sâu vẽ bùa: Tên khoa học (Liriomyza trifolii): Gây hại chủ yếu dưa leo, dưa gang, cà chua, ớt, đậu nành, đậu trắng, khoai tây… Thành trùng hoạt động vào 7-9 giờ sáng và 4-5 giờ chiều, thành trùng cái dùng bộ phận đẻ trứng rạch nhiều lỗ, các lỗ đục thường xuất hiện ở chóp lá hay dọc theo bìa lá, trứng nở ra dòi đục lòn giữa 8 biểu bì lá thành những đường hầm ngoằn ngoèo. Sâu thường gây thành dịch hại vào đầu mùa khô, thường từ giai đoạn cây có lá bánh tẻ trở đi.
Sâu khoang, sâu keo: Tên khoa học: (Spodoptera litura): Đây là loài sâu ăn tạp, theo như ghi nhận chúng phá hoại lên đến 290 loại cây trồng. Gây hại chủ yếu trên lá. Sâu xám: Tên khoa học: (Agrotis ypsilon): Sâu xám hại rất nhiều loại cây trồng như: Ngô, đậu đỗ, cây bông, cải xanh, cải bắp, cà rốt, cà tím, đậu xanh, rau diếp, khoai lang, cà chua, củ cải, dưa, bầu, bí. Sâu thường xuất hiện vào giai đoạn cây con và gây hại trầm trọng nhất ở những vùng đất nhẹ, đất cát nơi sâu non có thể vùi mình dễ dàng.
Sâu non có tính giả chết, khi bị đụng vào chúng cuộn lại, lăn ra giả chết. Sâu đẫy sức hoá nhộng trong đất. Chúng phát sinh ở thời tiết lạnh, ẩm độ cao. Sâu xanh da láng: Tên khoa học: (Spodoptera exigua): Ngài đẻ trứng thành từng ổ trên lá.
Một ngài cái có thể đẻ 300 - 400 trứng. Sâu non tuổi 1 tập trung gây hại xung quanh ổ trứng, đến cuối tuổi 1 sâu mới phát tán sang các lá khác. Khi lớn sâu phân tán dần.