CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Lịch sử nghiên cứu 1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu nấm dược liệu trên thế giới. Thời kì nấm học phát triển nhất là cuối thế kỉ XVIII- XIX với những công trình nổi tiếng của các tác giả Bulliard (1791; 1813; 1815), Fries (1821; 1830; 1832; 1838), Saccardo (1888), Karsten (1881; 1889), Patoullard (1890- 1928). Người ta đã biết đến nấm và sử dụng nấm từ thời cổ xưa. Theo Quách Mạt Nhược, tác giả Bộ Trung quốc sử cảo thì người Trung Quốc đã biết ăn nấm từ cách đây 6000-7000 năm.
Nghề nấu rượu có sử dụng nấm men và nấm sợi đã xuất hiện ở Trung Quốc từ cách đây 7000-8000 năm. Việc sử dụng nấm làm dược liệu (Thần khúc) đã có ở Trung Quốc từ cách đây 2550 năm. Các nấm dùng làm thuốc như Phục linh, Chư linh, Linh chi , Tử linh, Lôi hoàn, Mã bột, Thiền hoa, Trùng thảo, Mộc nhĩ…đã được ghi trong sáchThần nông bản thảo kinh trong thời gian khoảng năm 100-200 sau Công nguyên. Ở phương Tây, Ray (1684-1704) người Anh, đã căn cứ vào đặc điểm sinh thái là chính để phân 94 loại nấm thành 4 nhóm khác nhau trong sách Lịch sử thực vật.
Sau đó là các nghiên cứu phân loại nấm lớn căn cứ vào hình thái của Magnol (1689), Tournefort (1694). Nấm từ lâu đã đi vào các nền văn hóa trên thế giới như là đồ ăn ngon đầy hương vị và giàu dinh dưỡng. Những người La Mã cổ đại coi nấm là “loại thực phẩm của các vị thần”, nấm xuất hiện trên trái đất là do sấm sét của thần sao Mộc; những người Ai Cập coi chúng như là “một món quà từ thần Osiris”, trong khi người Trung Quốc xem chúng như là “ thuốc trường sinh”. Trong suốt quá trình lịch sử, nhiều nền văn hóa đã xây dựng một kho kiến thức thực tế về những loại nấm có thể ăn được và những loài nấm độc.
Nhiều quốc gia, đặc biệt ở phương Đông đã xác định rằng một số loài nấm nhất định có thể mang lại những lợi ích tuyệt vời cho sức khỏe. Một số loài nấm lớn thuộc họ Coriolaceae, Ganodermataceae và Lentinaceae chứa đựng nhiều chất có hoạt tính sinh học như các chất có bản chất protein, 6 saccharide, sterol, nucleoside, triterpenoit, vitamin và các nguyên tố vi lượng khác. Những hợp chất hoạt tính sinh học cao có trong những loài thuộc họ Coriolaceae, Ganodermataceae và Lentinaceae này có thể được chiết suất với công nghệ phù hợp. Trên cơ sở phân tích các chất có hoạt tính sinh học cao của của một số loài thuộc họ Coriolaceae, Ganodermataceae và Lentinaceae sẽ nghiên cứu xác định qui trình công nghệ chiết suất một số chất có tác dụng dược liệu.2 Những kết quả nghiên cứu nấm dược liệu ở Việt Nam Ở Việt Nam, từ lâu nhân dân đã biết dùng nấm làm thực phẩm và dược phẩm.
Nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 - 1784) trong tác phẩm “Vân đài loại ngữ ” và “Kiến văn tiểu lục” đã đánh giá “Linh chi là một sản vật quý hiếm của đất rừng Đại Nam” với các tác dụng lớn như: kiện não (tráng kiện), bảo can (bảo vệ gan), cường tâm (mạch tim), kiện vị (giúp tiêu hoá ở dạ dày), cường phế (giúp phổi), giải độc, giải cảm và giúp con người sống lâu, tăng tuổi thọ. Năm 1992, Phan Huy Dục thông báo “Nấm Linh Chi - nguồn dược liệu quý hiếm cần được bảo vệ và nuôi trồng” [28]. Năm 1994, Phan Huy Dục công bố “Một số loài nấm hoang dại được dùng làm thực phẩm ở Việt Nam” [8], đã xác định được 16 loài. Tiếp đó tại hội nghị Quốc tế về nấm Linh Chi được tổ chức tại Đại Học Y Khoa Bắc Kinh – Trung Quốc tác giả đã báo cáo “Research and culture of the mushroom Ganoderma lucidum (Leyss : Fr) Karst.
Cùng năm này Phạm Quang Thu đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của nấm lim Ganoderma lucidum ở vùng Đông Bắc Việt Nam [19]. Năm 1995, Trịnh Tam Kiệt và Lê Xuân Thám báo cáo “Những nghiên cứu về họ nấm Linh chi Ganodermataceae Donk ở Việt Nam” [18], tác giả đã nêu danh lục 43 loài nấm Linh chi, trong đó có 10 loài mới ghi nhận cho lãnh thổ Việt Nam và biên soạn chuyên san “Nấm Linh chi Ganodermataceae Donk – nguồn dược liệu quý ở Việt Nam”. Năm 1996, Trịnh Tam Kiệt và Ngô Anh báo cáo về họ nấm Linh chi Ganodermataceae Donk ở miền Trung Việt Nam tại hội nghị quốc tế về nấm 7 tại Nhật Bản với đề tài “Study on the family Ganodermataceae Donk in the Central Region of Vietnam” với 30 loài Linh chi ở miền Trung Việt Nam, trong đó có 20 loài mới ghi nhận lần đầu tiên cho khu hệ nấm ở miền Trung Việt Nam. Lê Xuân Thám nghiên cứu đặc điểm sinh học và quá trình hấp thu khoáng của nấm Linh chi Ganoderma lucidum (Leys.) Karst, bằng kỹ thuật hạt nhân [25]; Đàm Nhận nghiên cứu thành phần loài và một số đặc điểm sinh học họ nấm Linh chi Ganodermataceae Donk ở Việt Nam [23] đã mô tả được 37 loài; Trịnh Tam Kiệt công bố “Danh lục nấm của Việt Nam” gồm 826 loài [24].
Hội nghị Sinh học toàn quốc ở Hà Nội (tháng 12 năm 1999), Ngô Anh báo cáo “Nghiên cứu họ nấm linh chi (Ganodermataceae) ở Thừa Thiên Huế” gồm 35 loài thuộc 2 chi Ganoderma và Amauroderma, trong đó 10 loài mới ghi nhận cho khu hệ nấm Việt Nam; Nguyễn Thị Chính, Kiều Thu Vân, Dương Đình Bi và Nguyễn Thị Đức Hiền báo cáo “Nghiên cứu một số hoạt chất sinh học và tác dụng chữa bệnh của nấm Linh Chi (Ganoderma lucidum)” [20]. Cũng năm 2000, tại Hội nghị Sinh học Quốc Gia, những vấn đề cơ bản trong nghiên cứu sinh học, Trịnh Tam Kiệt, Ngô Anh, U. Dorfelt đã công bố “Những dẫn liệu bổ sung về thành phần loài và hoá các hợp chất tự nhiên của khu hệ nấm Việt Nam” [14], trong đó các tác giả đã công bố 65 loài mới của khu hệ nấm Việt Nam và thông báo về các hợp chất tự nhiên được nghiên cứu ở 25 loài nấm Việt Nam, trong đó hơn 10 cấu trúc mới về các hợp chất tự nhiên ở nấm Việt Nam đã được xác định cho khoa học. Hội nghị châu Á (2000) về thực vật dược ở Bangladesh, Trịnh Tam Kiệt, Ngô Anh, P.
Grafe đã báo cáo về các hợp chất nhóm Sterol mới lạ được chiết từ loài Ganoderma colossum của Việt Nam “New unusual sterol – type metabolites from a Vietnamese mushroom, Ganoderma colossum” [13]., Trịnh Tam Kiệt, Ngô Anh, Schlegel B. Grafe đã công bố 7 hoạt chất mới nhóm Triterpenoid: Colossolactones A – G (1-7) được chiết từ loài Ganoderma colossum (Fr) C. Baker được thu thập ở Huế [8]. Tổng kết cho đến năm 2001 đã có 1250 loài thuộc khu hệ nấm Việt Nam được công bố.
8 Một số loài thuộc họ Coriolaceae được sử dụng trong công nghệ dược phẩm, chúng được dùng để tinh chế một số dược phẩm như: loài Lariciformes officinalis từ xưa được dùng để chiết agaricin một dược phẩm dùng chữa một số bệnh như bệnh Lao, và được dùng làm thuốc nhuận tràng, chất thay thế cho quinine; Trametes vericolor, Pycnoporus sanguineus có chứa chất kháng sinh, vì vậy nhân dân một số nơi dùng chữa bệnh thối tai. Loài Auricularia polytricha được dùng làm thuốc chữa táo bón,rong huyết, giải độc.Pleurotus ostreatus được dùng làm thực phẩm và dược phẩm chữa bệnh béo phì. Pisolithus tinctorius có tác dụng cầm máu. Gần đây (2005), nhóm nghiên cứu của Lê Thị Mai Hương và các cộng sự đã nghiên cứu các hoạt chất từ một số loài nấm lớn, đã tách, tinh sạch và dặc trưng tính chất của laccase từ Agarius blazei được nhân nuôi trên môi trường MEA.
Tóm lại đã có một số nhà khoa học trong và ngoài nước tham gia nghiên cứu về các loài nấm thuộc các họ Coriolaceae, Ganodermataceae và Lentinaceae Bắc Trung Bộ chủ yếu về điều tra đa dạng sinh học, còn về mặt hóa học, hoạt tính sinh học còn rất ít. Do vậy, nghiên cứu các loài này theo hướng phân tích thành phần hóa học và sàng lọc các chất có hoạt tính sinh học ứng dụng cho ngành dược và thực phẩm chức năng, phục vụ sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân là việc làm cần thiết.2 Thành phần hóa học chủ yếu có trong các loại nấm dược liệu Các phân tích của G- Bing Lin đã chứng minh các thành phần hóa dược tổng quát của nấm dược liệu trong đó chủ yếu là nấm Linh chi như sau:[21] Nước 12 – 13% Cellulose 54 – 56% Lignine 13 – 14% Lipid 1.12% 9 Thành phần khác: K, Zn, Ca, Mn, Na, khoáng thiết yếu, nhiều vitamin, amino axit, enzim và hợp chất alkaloid. Từ những năm 1980 đến nay, bằng các phương pháp hiện đại: phổ kế UV (tử ngoại), IR (hồng ngoại), phổ kế khối lượng – sắc kí khí (GC- MS), phổ cộng hưởng từ hạt nhân và đặc biệt là phổ sắc kí lỏng cao áp (HPLC) cùng phổ kế plasma (ICP), đã xác định chính xác gần 100 hoạt chất và dẫn xuất trong nấm Linh chi.2 : Các hoạt chất sinh học và dẫn xuất trong nấm Linh chi: [22] Thành phần Loại Nhóm chất Hoạt tính dược lý hoạt chất mô nấm ARN Nucleic axit Kích thích hệ miễn dịch Bào tử Chống virut Không xác định Alkaloid Bổ tim Quả thể Không xác định Glycoprotein Ức chế khối u Quả thể Adenosin Nucleotide Tăng sự lưu thông máu Quả thể Thư giản cơ, giảm đau Beta –D-glucan Polysaccharide Chống khối u Quả thể Kích thích hệ miễn dịch Bổ tim Giảm lượng đường huyết Ganoderic axid Triterpenoid Chống dị ứng Quả thể Bảo vệ gan Ức chế tổng hợp cholesterol Ganodermadiol Triterpenoid Giảm huyết áp Quả thể Ức chế ACE Adenosin Nucleotide Tăng sự lưu thông máu Hệ sợi nấm Giản cơ, giảm đau Beta – D- glucan Polysaccharide Chống khối u Hệ sợi nấm Tăng sản xuất kháng thể Kích thích hệ miễn dịch 10 Uridine, Uracil Nucleoside Phục hồi sự dẻo dai Hệ sợi nấm Cyclooctasulpher Chống dị ứng Hệ sợi nấm Ling Zhi – 8 Protein Chống dị ứng quang phổ Hệ sợi nấm Điều hòa huyết áp Ganodosterone Steroid Bảo vệ gan Hệ sợi nấm Ganoderic acid Triterpenoid Bảo vệ gan Hệ sợi nấm Ganodermic acid Triterpenoid Ức chế tổng hợp cholesterol Hệ sợi nấm T- O Oleic acid Acid béo Chống dị ứng Hệ sợi nấm Năm 2001,Masao Hattori đã ly trích được 10 triterpene mới, bao gồm lucidumol A và B, các ganoderic acid: A, B, E, F , K, H, Y và R. Trong đó kiểu Lanostane triterpene có thành phần chính là lipophilic.
Có khoảng 130 hợp chất được trích ly từ quả thể, hệ sợi và bào tử nấm Linh chi. Thành phần và hàm lượng triterpenoid tùy thuộc vào nguồn giống, yếu tố môi trường. Vai trò của triterpenoid có ý nghĩa quan trọng trong phòng chống căn bệnh HIV.