Tổng quan luận án

Cây ăn quả có múi (cam, quýt, chanh, bưởi thuộc họ Rutaceae) giữ vai trò kinh tế quan trọng trong sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn năm 2020, tổng diện tích cây ăn quả có múi trên toàn quốc đạt khoảng 235.000 ha, trong đó các tỉnh phía Bắc chiếm 106.125 ha, Bắc Trung Bộ chiếm 29.630 ha, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên chiếm 7.761 ha, và các tỉnh phía Nam chiếm 91.702 ha. Riêng cơ cấu chủng loại, diện tích cam chiếm trên 130.000 ha và bưởi đạt trên 85.000 ha. Tại tỉnh Cao Bằng, các giống cây bản địa như quýt Trà Lĩnh, cam Trưng Vương mang lại nguồn thu nhập chính cho nông dân và nằm trong định hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng thay thế các loại cây kém hiệu quả.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, năng suất và chất lượng các vườn cam quýt tại Cao Bằng suy giảm nghiêm trọng. Việc mở rộng diện tích và thâm canh cao đã tạo điều kiện cho nhiều loại dịch hại bùng phát. Cùng với bệnh vàng lá greening (HLB), bệnh thối rễ, chảy gôm và thối quả do nấm Phytophthora spp. gây ra xuất hiện phổ biến tại các vùng trồng tập trung như huyện Hòa An, Trà Lĩnh và Phục Hòa. Cây bị bệnh có biểu hiện còi cọc, tán lá chuyển vàng, vỏ thân sát gốc nứt nẻ và ứa mủ nâu đen, phần gỗ biến màu thẫm, rễ tơ thối đen và tuột vỏ. Khi bệnh chuyển nặng, cây rụng lá, ngừng ra quả và chết khô, tạo nên hiện tượng mà người dân địa phương gọi là các vườn "cam buồn".

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ thực tiễn sản xuất: người nông dân chủ yếu phòng trừ khi cây đã phát bệnh nặng ở phần thân lá khiến việc can thiệp bằng hóa chất hầu như không đạt hiệu quả; đồng thời, tập quán tái canh trên nền đất đã tích lũy mật độ nấm bệnh cao khiến cây con nhanh chóng tái nhiễm. Trước thời điểm nghiên cứu, bệnh thối rễ chảy gôm tại Cao Bằng mới chỉ dừng ở mức nhận định sơ bộ do chi nấm Phytophthora gây ra; chưa có công trình nào điều tra thành phần loài mầm bệnh, đặc tính sinh học, sinh thái phát sinh cũng như thử nghiệm giải pháp sinh học bằng các chủng vi sinh vật đối kháng bản địa.

Luận án tiến sĩ nông nghiệp của nghiên cứu sinh Nguyễn Nam Dương, chuyên ngành Bảo vệ thực vật (mã số: 9.12), thực hiện tại Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam dưới sự hướng dẫn của TS. Hà Minh Thanh và TS. Đặng Vũ Thị Thanh, tập trung giải quyết toàn diện các vấn đề trên.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án:

  • Xác định được các loài Phytophthora là tác nhân gây bệnh trên cây ăn quả có múi ở Cao Bằng.
  • Xác định đặc điểm sinh học của các loài nấm và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát sinh và gây hại của bệnh thối rễ, chảy gôm cây ăn quả có múi tại Cao Bằng.
  • Xác định các biện pháp phòng trừ bệnh hiệu quả tại Cao Bằng.

Yêu cầu cụ thể của đề tài (được đánh số theo văn bản):

  1. Đánh giá được thực trạng bệnh thối rễ, chảy gôm trên cây ăn quả có múi, xác định được các loài Phytophthora là tác nhân gây bệnh và đặc điểm phát sinh gây hại của nấm gây ra cho cây ăn quả có múi ở Cao Bằng.
  2. Phân lập, tuyển chọn được các chủng vi sinh vật đối kháng nấm Phytophthora có hoạt tính cao.
  3. Thử nghiệm khả năng sử dụng vi sinh vật đối kháng để phòng trừ nấm Phytophthora gây bệnh trên cây ăn quả có múi.
  4. Đề xuất được các biện pháp phòng chống hiệu quả bệnh do nấm Phytophthora spp. gây hại trên cây ăn quả có múi tại Cao Bằng.

Đối tượng nghiên cứu:

  • Nấm Phytophthora spp. gây bệnh thối rễ, chảy gôm trên cây ăn quả có múi.
  • Các giống cây ăn quả có múi bản địa tại Cao Bằng: cam Trưng Vương, quýt Trà Lĩnh, quýt Trọng Con, bưởi Phục Hòa.
  • Các chủng vi sinh vật đối kháng bản địa (vi khuẩn Bacillus spp., xạ khuẩn Streptomyces spp.) và chế phẩm sinh học phối hợp mang ký hiệu CB-1.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi không gian: Khảo sát hiện trạng, thu thập mẫu bệnh, phân lập vi sinh vật và bố trí thí nghiệm đồng ruộng tại các vùng trồng cây ăn quả có múi thuộc tỉnh Cao Bằng (huyện Hòa An, Trà Lĩnh, Phục Hòa); các thí nghiệm nuôi cấy, phân tích sinh học phân tử và thử nghiệm nhà lưới được tiến hành tại Viện Bảo vệ thực vật và Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Các đợt điều tra thực địa, thu thập mẫu và triển khai thực nghiệm được tiến hành liên tục từ năm 2014 đến năm 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về chi nấm Phytophthora và quản lý dịch hại trên cây ăn quả có múi.

Về phân loại học và đặc điểm sinh học, tác giả điểm lại dấu mốc nấm Phytophthora được mô tả lần đầu bởi Heinrich Anton de Bary năm 1875. Tên gọi bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp ("Phyto" là cây trồng, "Phthora" là phá hủy). Chi nấm này từng được xếp vào họ Pythiaceae, bộ Peronosporales, lớp Oomycetes (Erwin & Ribeiro, 1996). Đến năm 2019, Trung tâm Nông nghiệp và Sinh học Quốc tế (CABI) phân loại lại Phytophthora thuộc sinh vật nhân thật (Eukaryota), giới Chromista, ngành Oomycota, lớp Oomycetes, bộ Peronosporales, họ Peronosporaceae. Nấm này có thành tế bào cấu tạo chủ yếu từ cellulose thay vì chitin như nấm thật (Lucas và cs., 1991), nhân tế bào ở trạng thái lưỡng bội trong pha sinh dưỡng.

Trên thế giới, hơn 60 loài Phytophthora đã được mô tả gây bệnh thực vật (David & André Drenth, 2004). Trên cây ăn quả có múi, 10 loài đã được ghi nhận, trong đó P. citrophthora, P. nicotianae (trước đây là P. parasitica) và P. palmivora là các loài phổ biến và gây hại nghiêm trọng nhất (Graham & Menge, 2000). Các công trình của Naqvi (1990, 1996, 2000, 2002a, 2002b) tại Ấn Độ, Graham & Menge (1999, 2000), Graham & Timmer (1992, 2006, 2011), Graham & Dewdney (2014) tại Florida (Mỹ), và Alvarez và cs. (2008a, 2008b, 2009) tại Tây Ban Nha đã mô tả chi tiết triệu chứng thối mắt ghép, chết rạp cây con, chảy gôm nứt thân, thối xơ rễ và thối nâu quả. Các tác giả này cũng chỉ rõ du động bào tử (zoospores) phát tán qua nước tưới, mưa bắn và chuyển động của rễ trong đất.

Về phương pháp định danh, bên cạnh hình thái học theo khóa phân loại của Stamps và cs. (1990), các nghiên cứu của Kong và cs. (2003, 2004), Duncan & Cooke (2002), Cooke và cs. (2000), Kroon và cs. (2012) đã chuẩn hóa việc giải trình tự vùng đệm phiên mã nội (ITS rDNA) bằng các cặp mồi ITS6/ITS7 hoặc ITS1/ITS4 để định danh chính xác tới loài và phân tích phát sinh chủng loại.

Về quản lý bệnh tổng hợp, các tài liệu quốc tế tập trung vào 4 nhóm biện pháp: kỹ thuật canh tác (làm luống cao, thoát nước, tỉa cành theo Timmer và cs., 2003); sử dụng gốc ghép chống chịu như cam ba lá Poncirus trifoliata, Citrus aurantium (Dalan và cs., 2016); thuốc trừ nấm lưu dẫn hóa học nhóm metalaxyl, mefenoxam, fosetyl-Al (David & André Drenth, 2004); và phòng trừ sinh học sử dụng Bacillus spp., Trichoderma spp., Streptomyces spp. (Gilles và cs., 2015; Chen và cs., 2016).

Tại Việt Nam, các đợt điều tra cơ bản của Viện Bảo vệ thực vật (1967-1968, 1977-1978, 1997-1998, 2006-2010) ghi nhận trên cây ăn quả có múi có 96 loài côn trùng gây hại và 19 loại bệnh do nấm. Đặng Vũ Thị Thanh, Ngô Vĩnh Viễn và Drenth (2004) công bố 9 loài Phytophthora gây hại nông nghiệp tại Việt Nam. Nhiều tác giả đã nghiên cứu sâu bệnh do Phytophthora trên các cây trồng khác như cao su, hồ tiêu, sầu riêng, bơ: Mai Văn Trị và cs. (2003, 2016), Nguyễn Vĩnh Trường (2008), Phạm Ngọc Dung, Ngô Vĩnh Viễn và Nguyễn Văn Tuất (2007, 2008, 2012). Đối với cây có múi, P. citrophthora được phát hiện tại Việt Nam từ thập niên 50 của thế kỷ 20, sau đó là P. nicotianae (Hà Minh Trung và cs., 1995; Nguyễn Thị Kim Sơn và cs., 2003). Gần đây, Phạm Thị Dung và cs. (2015) xác định P. citrophthora gây chảy gôm trên bưởi Thanh Trà tại Thừa Thiên Huế; Phạm Hồng Hiển và cs. (2018, 2019) nghiên cứu nấm Phytophthora trên cam và sàng lọc xạ khuẩn đối kháng tại một số tỉnh phía Bắc.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết: Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam về bệnh Phytophthora trên cây ăn quả có múi còn phân tán, chủ yếu khảo sát tỷ lệ bệnh cục bộ, chưa có hệ thống chiến lược quản lý bệnh từ vườn ươm đến vườn kinh doanh. Đặc biệt tại tỉnh Cao Bằng, vùng miền núi có điều kiện khí hậu và tập quán canh tác đặc thù, chưa từng có nghiên cứu nào giám định tác nhân gây bệnh bằng công nghệ phân tử kết hợp hình thái học, chưa làm rõ quy luật phát sinh gây hại trên các giống đặc sản (quýt Trà Lĩnh, cam Trưng Vương), và hoàn toàn thiếu vắng các giải pháp chế phẩm vi sinh đối kháng bản địa được thử nghiệm bài bản trên đồng ruộng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án được thiết kế dựa trên các nguyên lý của bệnh học thực vật (Plant Pathology), sinh thái học vi sinh vật và kiểm soát sinh học (Biological Control). Khung phân tích dịch tễ học dựa trên tam giác bệnh cây: sự tương tác giữa vật chủ (các giống cây có múi ở các độ tuổi khác nhau), mầm bệnh (Phytophthora spp.) và điều kiện môi trường (nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa, độ dốc địa hình). Cơ sở lý thuyết của biện pháp sinh học là khả năng cạnh tranh dinh dưỡng, sinh tổng hợp enzyme ngoại bào (chitinase, protease, glucanase) làm suy thoái vách tế bào nấm bệnh, và tiết các chất kháng sinh ức chế sự nảy mầm của bọc bào tử và sợi nấm.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa điều tra thực địa, thực nghiệm in vitro trong phòng thí nghiệm, thử nghiệm in vivo trong nhà lưới và khảo nghiệm diện hẹp trên đồng ruộng.

Các phương pháp cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp điều tra hiện trạng và thành phần bệnh hại: Sử dụng phương pháp điều tra sâu bệnh chuẩn của Viện Bảo vệ thực vật; điều tra phân bố, tuổi cây, cơ cấu giống, chế độ chăm sóc tại các vùng sản xuất cây ăn quả có múi tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn 2014 - 2019.
  • Phương pháp phân lập nấm: Thu thập mẫu đất vùng rễ và rễ bị bệnh; sử dụng phương pháp bẫy sinh học bằng cánh hoa hồng (rose petal baiting). Mẫu rễ và mẫu bẫy được cấy trên môi trường chọn lọc PSM (chứa kháng sinh) và môi trường thạch nước rau V8 (V8 juice agar), sau đó làm sạch khuẩn lạc trên môi trường PDA.
  • Phương pháp định danh hình thái: Nuôi cấy mẫu nấm trên đĩa petri thạch V8 và PDA ở 28°C; quan sát đặc điểm tản nấm (dạng bông, hình sao), cấu trúc sợi nấm không vách ngăn, kích thước và hình thái bọc bào tử (sporangia: chiều dài, chiều rộng, tỷ lệ dài/rộng, hình dạng elip hay quả lê ngược, có núm hay không núm, cuống rụng), sự hình thành hậu bào tử (chlamydospores) và bào tử trứng (oospores) theo khóa phân loại của Stamps và cs. (1990) và Erwin & Ribeiro (1996).
  • Phương pháp định danh bằng sinh học phân tử: Tách chiết DNA tổng số của các mẫu nấm phân lập; thực hiện phản ứng chuỗi trùng hợp (PCR) khuếch đại toàn bộ vùng gen ITS rDNA bằng cặp mồi chuyên biệt ITS6 (5'-GAA GTC GTA ACA AGG-3') và ITS7 (5'-AGC GTT CTT CAT CGA TGT GC-3'). Sản phẩm PCR được điện di trên gel agarose, tinh sạch và giải trình tự nucleotide. Chuỗi trình tự được so sánh với cơ sở dữ liệu quốc tế GenBank thông qua công cụ BLAST và thiết lập cây phát sinh chủng loại bằng phần mềm MEGA/ClustalW.
  • Kiểm tra tính gây bệnh (chứng minh giả thuyết Koch): Lây bệnh nhân tạo bằng phương pháp áp thạch mang sợi nấm lên quả cam Trưng Vương và vỏ thân cây con cam Trưng Vương khỏe mạnh trong điều kiện kiểm soát; theo dõi sự phát triển của vết bệnh hoại tử và phân lập ngược lại tác nhân.
  • Nghiên cứu đặc tính sinh học, sinh thái của nấm: Đánh giá sinh trưởng đường kính tản nấm và khả năng hình thành bọc bào tử của từng loài trên các môi trường dinh dưỡng khác nhau, ở các dải nhiệt độ nuôi cấy khác nhau và các mức pH môi trường khác nhau.
  • Phương pháp phân lập, tuyển chọn và định danh vi sinh vật đối kháng: Thu thập mẫu đất từ vùng rễ cây khỏe trong vườn bị bệnh tại Cao Bằng; phân lập vi khuẩn trên môi trường NA và xạ khuẩn trên môi trường Gause 1. Đánh giá hoạt tính đối kháng với nấm Phytophthora bằng phương pháp nuôi cấy đối đầu (dual culture) trên đĩa thạch; đo bán kính vòng ức chế, tính hiệu quả ức chế (HQUC %). Định danh các chủng vi sinh vật đối kháng triển vọng bằng giải trình tự vùng gen 16S rRNA.
  • Nghiên cứu đặc tính vi sinh vật đối kháng: Khảo sát khả năng đồng hóa các nguồn carbon (glucose, fructose, sucrose, maltose...), khả năng sinh tổng hợp enzyme ngoại bào (chitinase, protease), ảnh hưởng của nhiệt độ và pH đến sinh trưởng, và kiểm tra mức độ an toàn sinh học (tính gây độc thực vật, an toàn đối với động vật).
  • Phương pháp thử nghiệm hiệu lực phòng trừ của chế phẩm vi sinh CB-1:
    • Thử nghiệm trong nhà lưới: Đánh giá khả năng ức chế mật độ nấm Phytophthora trong đất và hiệu lực bảo vệ cây con cam Trưng Vương ở các liều lượng chế phẩm CB-1 khác nhau.
    • Thử nghiệm ngoài đồng ruộng: Đánh giá hiệu lực của chế phẩm CB-1 trên vườn cam Trưng Vương và quýt Trà Lĩnh bị bệnh; so sánh với thuốc sinh học đối chứng (Bio-VASS.1) và thuốc hóa học đối chứng (mefenoxam, fosetyl-Al). Đánh giá ảnh hưởng của số lần xử lý, phương pháp xử lý (tưới gốc, quét vết bệnh), kết hợp phân bón và biện pháp cắt tỉa tạo tán.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thực nghiệm được xử lý bằng phương pháp thống kê sinh học, phân tích phương sai (ANOVA) và so sánh giá trị trung bình theo trắc nghiệm Duncan/LSD ở mức xác suất tin cậy 95% (p < 0,05) trên phần mềm chuyên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I. Tổng quan tài liệu

Chương I trình bày hệ thống cơ sở lý luận và tổng quan thực trạng liên quan đến đề tài. Tác giả phân tích tình hình sản xuất cây ăn quả có múi trên thế giới và tại Việt Nam. Trên phạm vi toàn cầu, diện tích và sản lượng tập trung tại các quốc gia như Brazil, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Mexico, Ấn Độ, Tây Ban Nha.

Quốc gia Diện tích năm 2014 (ha) Sản lượng năm 2017 (tấn)
Brazil 942.267 20.682.309
Trung Quốc 1.476.679 19.617.100
Hoa Kỳ 430.080 10.017.000
Mexico 523.503 6.851.000
Ấn Độ 264.500 6.286.000
Tây Ban Nha 296.950 5.703.600
Toàn thế giới 7.295.135 124.246.000 (năm 2016)

Tại Việt Nam, diện tích cây có múi tăng nhanh, đạt 235.000 ha vào năm 2020. Luận án đi sâu vào đặc điểm thực vật học của bộ rễ nấm (Micorhiza), đặc điểm tán lá, cành và đặc tính ra hoa của cây có múi. Chương này tổng kết chi tiết vòng đời, hình thức sinh sản hữu tính và vô tính của chi Phytophthora, cơ chế xâm nhiễm gây hoại tử vỏ rễ, mạch dẫn xylem, và các hình thái triệu chứng (cháy lá, héo tàn rụi, loét xì mủ thân, thối cổ rễ, thối nâu quả). Đồng thời, tác giả tổng thuật các nghiên cứu về biện pháp quản lý bệnh: kiểm dịch thực vật, tiêu hủy cây bệnh trong vườn ươm, xử lý nước tưới, bón phân đạm dạng nitrate thay vì ammonium (do ammonium chuyển hóa thành asparagine và glutamine hấp dẫn du động bào tử), ghép cách ly mặt đất trên 40 cm, sử dụng gốc ghép chống chịu, và ứng dụng vi sinh vật đối kháng (Bacillus, Streptomyces, Trichoderma).

Chương II. Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương II mô tả toàn bộ đối tượng, hóa chất, thiết bị, bố trí thí nghiệm và các quy trình kỹ thuật. Vật liệu nghiên cứu bao gồm các mẫu mô bệnh rễ, vỏ thân, quả thu thập từ các vườn cam Trưng Vương, quýt Trà Lĩnh, bưởi Phục Hòa tại các huyện Hòa An, Trà Lĩnh, Phục Hòa; các mẫu đất vùng rễ; môi trường nuôi cấy nhân tạo (V8, PDA, PSM, Gause 1, NA); hóa chất sinh học phân tử (cặp mồi ITS6/ITS7, mồi 16S rRNA, enzyme Taq polymerase); và chế phẩm sinh học CB-1.

Nội dung nghiên cứu bám sát 4 yêu cầu đề ra. Quy trình thực nghiệm được chuẩn hóa: bẫy nấm bằng cánh hoa hồng từ đất ngập nước; phân lập dòng đơn; quan sát kính hiển vi đo đạc kích thước cơ quan sinh sản; nhân gen ITS bằng PCR; lây bệnh nhân tạo áp thạch kiểm tra tính gây bệnh trên quả và thân; nuôi cấy ở các ngưỡng nhiệt độ (từ thấp đến 35°C) và pH (từ axit đến kiềm); phân lập vi sinh vật đất, sàng lọc đối kháng in vitro, giải trình tự gen 16S rRNA định danh vi sinh vật; kiểm tra an toàn sinh học; và bố trí thí nghiệm khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) đánh giá chế phẩm CB-1 trong nhà lưới và ngoài đồng ruộng.

Chương III. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương III là phần thực nghiệm trọng tâm của luận án, trình bày các kết quả phát hiện cụ thể:

  1. Hiện trạng bệnh thối rễ chảy gôm tại Cao Bằng: Khảo sát giai đoạn 2014 - 2019 cho thấy bệnh thối rễ chảy gôm xuất hiện tại hầu hết các vườn trồng cây ăn quả có múi ở Cao Bằng, là nguyên nhân hàng đầu khiến các vườn cây bị thoái hóa, giảm năng suất nghiêm trọng. Triệu chứng điển hình là vỏ thân sát mặt đất nứt dọc, nhựa chảy thành giọt sau đó đông cứng lại thành màu nâu đen; vỏ rễ tơ bị hoại tử, mủn nát, tuột khỏi lõi gỗ; tán lá úa vàng và cây chết dần.

  2. Xác định thành phần loài nấm Phytophthora gây bệnh: Từ các mẫu bệnh thu thập, tác giả phân lập được các mẫu nấm thuần khiết (ký hiệu Phyt-01, Phyt-02, Phyt-03, Phyt-04 và M1 đến M6). Phân tích hình thái kết hợp phân tích chuỗi trình tự nucleotide vùng gen ITS (so sánh BLAST trên GenBank và lập cây phát sinh chủng loại) đã xác định được 3 loài:

  • Loài Phytophthora nicotianae (mẫu Phyt-01 và Phyt-02): bọc bào tử hình quả lê đến hình trứng, có núm rõ rệt, không rụng.
  • Loài Phytophthora palmivora (mẫu Phyt-03 và Phyt-04): bọc bào tử hình elip thuôn dài, có núm rõ, dễ rụng với cuống ngắn (<5 µm), tỷ lệ dài/rộng trung bình 1,8; hình thành nhiều hậu bào tử.
  • Loài Phytophthora citrophthora (mẫu M1 đến M6): bọc bào tử dạng hình trứng méo mó, thường có 2 núm và 2 thùy, cuống dài (5 - 15 µm).
Ký hiệu mẫu nấm Loài được định danh Phương pháp định danh Đặc điểm bọc bào tử
Phyt-01, Phyt-02 Phytophthora nicotianae Hình thái + Trình tự gen ITS Hình quả lê/trứng, có núm, không cuống rụng
Phyt-03, Phyt-04 Phytophthora palmivora Hình thái + Trình tự gen ITS Hình elip thuôn dài, có núm, dễ rụng (cuống <5 µm)
M1 - M6 Phytophthora citrophthora Hình thái + Trình tự gen ITS Hình trứng méo mó, 2 núm/2 thùy, cuống dài 5-15 µm

Thử nghiệm lây bệnh nhân tạo bằng phương pháp áp thạch trên quả cam Trưng Vương và cây con cam Trưng Vương khẳng định cả 3 loài đều có khả năng xâm nhiễm, gây thối nâu quả và loét thân, trong đó P. citrophthora và P. palmivora thể hiện độc tính xâm nhiễm nhanh. Kết quả này bổ sung Phytophthora palmivora vào danh mục thành phần nấm hại cây ăn quả có múi tại các tỉnh miền núi phía Bắc.

  1. Đặc điểm sinh học và sinh thái học của nấm:
  • Ảnh hưởng của môi trường dinh dưỡng: Môi trường thạch V8 cho tốc độ phát triển tản nấm nhanh và mật độ dày hơn môi trường PDA.
  • Ảnh hưởng của nhiệt độ: P. citrophthora có khả năng sinh trưởng ở nhiệt độ thấp (tối thích 24 - 28°C, ngừng sinh trưởng ở 35°C). P. palmivora và P. nicotianae ưa nhiệt độ ấm hơn (tối thích 27,5 - 32°C). Quá trình hình thành bọc bào tử diễn ra tối ưu ở 25 - 30°C trong điều kiện thừa ẩm.
  • Ảnh hưởng của pH: Cả 3 loài sinh trưởng được trong dải pH rộng từ 5,0 đến 8,0, thích hợp nhất ở pH 6,0 - 7,0.
  1. Quy luật phát sinh gây hại trên đồng ruộng: Diễn biến bệnh trong năm 2015 và 2016 tại Cao Bằng cho thấy tỷ lệ bệnh (TLB %) và chỉ số bệnh (CSB %) bắt đầu gia tăng từ tháng 4 - 5, bùng phát đạt đỉnh cao vào các tháng 7, 8, 9 (trùng với mùa mưa nhiều, nhiệt độ cao), sau đó giảm dần vào mùa khô lạnh từ tháng 11. Bệnh phát sinh nặng tại các vườn chân đồi, thung lũng thoát nước kém so với vườn trên đồi dốc. Vườn cây tuổi cao (>10 năm) bị bệnh nặng hơn rõ rệt so với vườn mới trồng. Các giống quýt Trà Lĩnh và cam Trưng Vương đều mẫn cảm cao với bệnh.

  2. Tuyển chọn và định danh vi sinh vật đối kháng bản địa: Từ tập đoàn các chủng phân lập từ đất Cao Bằng, luận án tuyển chọn được 3 chủng có hoạt tính đối kháng vượt trội:

  • Chủng vi khuẩn BNB3.8: Định danh bằng giải trình tự 16S rRNA là Bacillus amyloliquefaciens.
  • Chủng vi khuẩn BHA12.2: Định danh bằng giải trình tự 16S rRNA là Bacillus methylotrophicus.
  • Chủng xạ khuẩn STL2.7: Định danh bằng giải trình tự 16S rRNA là Streptomyces misionensis.
Chủng vi sinh vật Tên loài định danh (16S rRNA) Nhóm vi sinh vật Hiệu quả ức chế nấm in vitro (HQUC %)
BNB3.8 Bacillus amyloliquefaciens Vi khuẩn 82,2 - 85,7%
BHA12.2 Bacillus methylotrophicus Vi khuẩn 82,2 - 85,7%
STL2.7 Streptomyces misionensis Xạ khuẩn 82,2 - 85,7%

Cả 3 chủng đều có khả năng đồng hóa tốt các nguồn carbon, sinh tổng hợp enzyme ngoại bào chitinase và protease mạnh, sinh trưởng thuận lợi ở nhiệt độ 25 - 35°C, pH 6 - 8, và đạt các tiêu chuẩn về an toàn sinh học.

  1. Hiệu lực phòng trừ của chế phẩm CB-1 và đề xuất biện pháp quản lý: Chế phẩm CB-1 (chứa hỗn hợp 3 chủng B. amyloliquefaciens, B. methylotrophicus và S. misionensis) được thử nghiệm:
  • Trong nhà lưới: Giảm mật độ nấm Phytophthora trong đất, đạt hiệu lực phòng trừ bệnh thối rễ chảy gôm từ 75,85% đến 83,18%.
  • Ngoài đồng ruộng (vườn cam Trưng Vương và quýt Trà Lĩnh): Chế phẩm CB-1 đạt hiệu lực phòng trừ 73,1%, làm giảm tỷ lệ bệnh và mật độ nguồn nấm trong đất tương đương với các công thức sử dụng thuốc trừ nấm sinh học Bio-VASS.1 và tiệm cận hiệu lực thuốc hóa học.
  • Quy trình ứng dụng: Đạt hiệu quả cao nhất khi xử lý 2 - 3 lần/năm (vào đầu và giữa mùa mưa) bằng phương pháp tưới gốc kết hợp quét dung dịch đậm đặc lên vết bệnh thân cành, phối hợp với bón phân hữu cơ hoai mục, bón phân cân đối và cắt tỉa cành thông thoáng sát mặt đất.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học:

  • Luận án đã xác định được phức hợp 3 loài nấm Phytophthora là tác nhân gây bệnh thối rễ, chảy gôm trên cây ăn quả có múi tại Cao Bằng gồm: Phytophthora nicotianae, Phytophthora citrophthora và Phytophthora palmivora.
  • Lần đầu tiên ghi nhận và bổ sung loài Phytophthora palmivora vào danh mục các loài nấm gây bệnh hại trên cây ăn quả có múi tại các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam.
  • Cung cấp dữ liệu khoa học về đặc điểm sinh học (dải nhiệt độ, dải pH, môi trường nuôi cấy), đặc điểm hình thái cơ quan sinh sản và quy luật phát sinh gây hại thực địa của từng loài nấm theo mùa vụ, độ tuổi vườn cây và địa hình canh tác tại Cao Bằng.
  • Phân lập, tuyển chọn và cung cấp dữ liệu phân tử 16S rRNA của 3 chủng vi sinh vật đối kháng bản địa có hoạt tính ức chế cao (Bacillus amyloliquefaciens BNB3.8, Bacillus methylotrophicus BHA12.2 và Streptomyces misionensis STL2.7).

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp ứng dụng:

  • Xây dựng thành công chế phẩm sinh học phối hợp CB-1 từ 3 chủng vi sinh vật bản địa, đạt hiệu lực phòng trừ nấm Phytophthora từ 75,85% đến 83,18% trong nhà lưới và 73,1% trên đồng ruộng.
  • Đề xuất quy trình kỹ thuật phòng chống bệnh thối rễ chảy gôm theo hướng sinh học trên cây ăn quả có múi tại Cao Bằng: sử dụng chế phẩm CB-1 xử lý định kỳ kết hợp các biện pháp canh tác tổng hợp (thoát nước, cắt tỉa cành cách mặt đất, bón phân hữu cơ kết hợp phân khoáng cân đối, hạn chế đạm ammonium).

Kiến nghị của tác giả:

  • Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện công nghệ sản xuất, kéo dài thời hạn bảo quản của chế phẩm sinh học CB-1 ở quy mô công nghiệp.
  • Mở rộng khảo nghiệm và nhân rộng quy trình quản lý bệnh bằng chế phẩm sinh học CB-1 trên các vùng trồng cây ăn quả có múi khác có điều kiện sinh thái tương tự tại miền núi phía Bắc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Các nội dung nghiên cứu thực nghiệm đồng ruộng và khảo sát dịch tễ học mới tập trung chủ yếu trên địa bàn tỉnh Cao Bằng và trên hai giống bản địa chính là cam Trưng Vương và quýt Trà Lĩnh.
  • Đề tài tập trung vào biện pháp sinh học đối kháng và biện pháp canh tác; chưa đi sâu nghiên cứu lai tạo hoặc tuyển chọn các dòng gốc ghép kháng bệnh Phytophthora thích hợp cho điều kiện thổ nhưỡng vùng cao Cao Bằng.
  • Thử nghiệm chế phẩm CB-1 ngoài đồng ruộng mới được theo dõi, đánh giá trong thời gian thực hiện luận án (đến năm 2020), chưa có số liệu theo dõi dài hạn qua nhiều chu kỳ tái canh liên tiếp.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Nghiên cứu cơ chế tác động ở mức độ phân tử của các hoạt chất kháng sinh sinh học do các chủng B. amyloliquefaciens, B. methylotrophicus và S. misionensis tiết ra đối với màng tế bào và quá trình nảy mầm của bọc bào tử Phytophthora.
  • Nghiên cứu tối ưu hóa chất mang và điều kiện bảo quản chế phẩm CB-1 để thương mại hóa phục vụ sản xuất quy mô lớn.
  • Đánh giá khả năng chống chịu bệnh của tập đoàn gốc ghép cây có múi tại địa phương để phục vụ công tác ghép cải tạo vườn già cỗi.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng sau:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Bảo vệ thực vật, Nông học, Vi sinh vật học: Luận án cung cấp quy trình thực nghiệm chi tiết về kỹ thuật bẫy nấm Phytophthora bằng mô thực vật sống (cánh hoa hồng), quy trình giải trình tự gen ITS để giám định Oomycetes, kỹ thuật giải trình tự 16S rRNA định danh vi khuẩn/xạ khuẩn, và phương pháp kiểm tra enzyme ngoại bào.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu bệnh cây: Cung cấp số liệu đối sánh thực nghiệm về đặc tính sinh học của các loài Phytophthora và các dẫn liệu về khả năng kiểm soát sinh học nấm bệnh trong đất bằng vi sinh vật bản địa.
  • Cán bộ khuyến nông và nhà quản lý nông nghiệp tại Cao Bằng và các tỉnh trung du miền núi phía Bắc: Tham khảo quy trình sử dụng chế phẩm vi sinh CB-1 và các giải pháp canh tác IPM/ICM để hướng dẫn nông dân phòng trừ bệnh thối rễ chảy gôm an toàn, giảm thiểu sự phụ thuộc vào thuốc bảo vệ thực vật hóa học.

Các phần đáng tham khảo nhất trong văn bản:

  • Tiểu mục 3.2 (Chương III): Dữ liệu phân tích trình tự nucleotide vùng gen ITS và hình ảnh hình thái so sánh 3 loài nấm Phytophthora.
  • Tiểu mục 3.4 (Chương III): Quy trình sàng lọc, tuyển chọn và các bảng số liệu về hoạt tính enzyme, an toàn sinh học của 3 chủng Bacillus và Streptomyces.
  • Bảng số liệu khảo nghiệm hiệu lực phòng trừ của chế phẩm CB-1 trên vườn cam Trưng Vương và quýt Trà Lĩnh (Bảng 38 đến Bảng 43).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án đã xác định được những loài nấm nào gây ra bệnh thối rễ chảy gôm trên cây ăn quả có múi tại Cao Bằng?

Luận án xác định được 3 loài nấm thuộc chi Phytophthora là tác nhân gây bệnh thối rễ chảy gôm tại Cao Bằng gồm: Phytophthora nicotianae, Phytophthora citrophthora và Phytophthora palmivora. Cả 3 loài đều được kiểm chứng tính gây bệnh qua phương pháp lây bệnh nhân tạo áp thạch trên quả và thân cây cam Trưng Vương theo giả thuyết Koch.

2. Loài nấm nào lần đầu tiên được luận án bổ sung vào danh mục dịch hại cây ăn quả có múi ở các tỉnh miền núi phía Bắc?

Loài nấm Phytophthora palmivora (được định danh từ các mẫu phân lập Phyt-03 và Phyt-04 thông qua hình thái bọc bào tử cuống rụng ngắn và giải trình tự toàn bộ vùng gen ITS) là loài lần đầu tiên được tác giả bổ sung vào danh mục các loài nấm gây hại trên cây ăn quả có múi tại các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam.

3. Thành phần sinh học của chế phẩm CB-1 gồm những vi sinh vật nào và đạt hiệu lực phòng trừ bao nhiêu?

Chế phẩm sinh học CB-1 gồm hỗn hợp 3 chủng vi sinh vật đối kháng bản địa được phân lập từ đất Cao Bằng: Bacillus amyloliquefaciens (chủng BNB3.8), Bacillus methylotrophicus (chủng BHA12.2) và Streptomyces misionensis (chủng STL2.7). Trong điều kiện phòng thí nghiệm, các chủng này đạt hiệu quả ức chế nấm từ 82,2% đến 85,7%; trong nhà lưới, chế phẩm đạt hiệu lực phòng trừ 75,85% - 83,18%; và ngoài đồng ruộng đạt hiệu lực 73,1%.

4. Quy luật phát sinh gây hại của bệnh tại Cao Bằng diễn biến như thế nào trong năm?

Bệnh bắt đầu phát sinh và gia tăng tỷ lệ gây hại từ tháng 4 - 5, bùng phát mạnh nhất vào mùa mưa từ tháng 7 đến tháng 9 - 10 hàng năm (khi nhiệt độ và ẩm độ cao), sau đó giảm dần vào mùa khô lạnh cuối năm. Bệnh gây hại nặng hơn ở các vườn vùng chân đồi, thung lũng thoát nước kém và trên các vườn cây nhiều năm tuổi (>10 năm).

5. Cặp mồi phân tử nào được tác giả sử dụng để khuếch đại vùng gen ITS phục vụ định danh nấm?

Tác giả sử dụng cặp mồi chuyên biệt ITS6 (trình tự xuôi: 5'-GAA GTC GTA ACA AGG-3' định vị trên 18S rDNA) và ITS7 (trình tự ngược: 5'-AGC GTT CTT CAT CGA TGT GC-3' định vị trên 5.8S rDNA) để thực hiện phản ứng PCR khuếch đại vùng gen ITS phục vụ giải trình tự và định danh các mẫu nấm Phytophthora.

Kết luận

Luận án tiến sĩ nông nghiệp của tác giả Nguyễn Nam Dương đã giải quyết đồng bộ và có hệ thống vấn đề bệnh thối rễ chảy gôm do nấm Phytophthora spp. trên cây ăn quả có múi tại Cao Bằng. Công trình kết hợp thành công phương pháp hình thái học truyền thống với công nghệ sinh học phân tử (giải trình tự ITS và 16S rRNA) để định danh chính xác 3 loài nấm gây bệnh (P. nicotianae, P. citrophthora, P. palmivora) và 3 chủng vi sinh vật đối kháng bản địa (B. amyloliquefaciens, B. methylotrophicus, S. misionensis). Kết quả nghiên cứu đã tạo tiền đề khoa học và thực tiễn vững chắc thông qua việc phát triển chế phẩm sinh học CB-1 đạt hiệu lực phòng trừ trên 73% ngoài đồng ruộng, góp phần định hình quy trình quản lý bệnh cây theo hướng sinh học bền vững cho vùng cây ăn quả đặc sản miền núi phía Bắc.