MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài Mối thuộc bộ Cánh đều (Isoptera), có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái. Chúng phân giải sản phẩm có nguồn gốc cellulose bổ sung trở lại chất dinh dưỡng cho đất. Tuy vậy, xét về khía cạnh kinh tế, một số loài mối gây tác hại không nhỏ cho những công trình cần bảo vệ như đê, đập, công trình kiến trúc và cây trồng. Vì vậy trong tự nhiên vừa phải duy trì đa dạng sinh học của mối, vừa phải tìm các biện pháp phòng chống các loài mối gây hại.
Ở Việt Nam cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu từ điều tra cơ bản thành phần loài mối ở các vườn Quốc gia (VQG), các khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) đến thành phần mối gây hại và biện pháp phòng trừ mối cho công trình kiến trúc, đê đập và cây trồng (Trịnh Văn Hạnh và Đinh Xuân Tuấn, 2007 [12], Nguyễn Quốc Huy, 2011 [17]). Tuy vậy, ở khu vực miền Trung nước ta còn ít được quan tâm nghiên cứu đầy đủ về mối và ứng dụng các biện pháp phòng trừ, trong đó có khu vực từ Quảng Bình đến Thừa Thiên Huế. Khu vực nghiên cứu (KVNC) bao gồm địa phận các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế, nơi đây chứa đựng các cảnh quan phức tạp và các sinh cảnh đa dạng, là nơi giao lưu giữa khí hậu miền Bắc và miền Trung, vừa có đặc trưng của địa hình núi đá vôi với các thung lũng hẹp như Phong Nha - Kẻ Bàng, lại có địa hình đá Granite với một số vùng phủ các đá sa thạch, sườn dốc như khu vực Bạch Mã. Sự đa dạng cảnh quan, địa hình đã tạo nên sự đa dạng về sinh học, nhiều loài động thực vật quý hiếm được phát hiện ở các VQG và khu bảo tồn ở Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế [29].
Các điều tra về đa dạng, nhất là đa dạng loài động vật có xương sống, thực vật đã được triển khai, tuy vậy các nghiên cứu về côn trùng nói chung và mối nói riêng trong khu vực trên còn khá ít ỏi, đặc biệt ở những vùng cao của các khu vực bảo vệ nghiêm ngặt. 1 Điều đáng quan tâm, trong khu vực nghiên cứu còn có những công trình kiến trúc cổ, những khu di tích, trong đó có khu Di sản văn hóa Thế giới Cố Đô Huế đang bị mối gây hại nghiêm trọng cần phải có những biện pháp phòng trừ hợp lý, thân thiện với môi trường. Trước thực tế đó, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu thành phần loài mối (Insecta: Isoptera) ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và đề xuất biện pháp phòng trừ mối hại công trình kiến trúc”. Mục tiêu của đề tài Điều tra thành phần loài và đặc trưng phân bố của mối tại Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế.
Xác định các loài mối gây hại chính cho công trình kiến trúc và nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh thái của chúng; Thử nghiệm biện pháp phòng trừ mối hại các công trình kiến trúc ở phòng thí nghiệm và ngoài thực địa. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài Đối tượng nghiên cứu: - Các loài mối ở khu vực các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế; - Bả kìm hãm tổng hợp kitin. Phạm vi nghiên cứu: - Điều tra thu thập vật mẫu mối tại các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. Định loại chủ yếu dựa trên đặc điểm hình thái ngoài; - Phân tích đặc điểm phân bố của mối theo sinh cảnh và theo độ cao; - Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái quan trọng của mối Coptotemes gestroi liên quan đến sử dụng bả ức chế tổng hợp kitin trong phòng trừ mối gây hại chính cho công trình kiến trúc; - Thử nghiệm biện pháp phòng chống mối Coptotermes hại công trình kiến trúc bằng bả ức chế tổng hợp kitin.
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Ý nghĩa khoa học - Cung cấp có hệ thống và đầy đủ về thành phần loài mối ở khu vực Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế cho đến hiện nay; - Cung cấp các dẫn liệu khoa học về đặc điểm phân bố thành phần loài, số lượng loài theo dải độ cao, theo sinh cảnh và tính đa dạng sinh học của mối ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế; - Cung cấp các dẫn liệu khoa học về nhóm tuổi và sự lột xác của mối thợ kiếm ăn Coptotermes gestroi làm cơ sở để thực hiện biện pháp phòng chống chúng trong công trình kiến trúc. Ý nghĩa thực tiễn - Xác định loài gây hại chính đối với công trình kiến trúc và cung cấp một số dẫn liệu sinh học, sinh thái học của mối Coptotermes gestroi làm cơ sở đề xuất biện pháp phòng trừ hiệu quả; - Chế tạo công thức bả ức chế tổng hợp kitin phòng trừ mối Coptotermes gây hại công trình kiến trúc. Những đóng góp mới của luận án - Cung cấp danh sách 83 loài mối cho khu vực Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, trong đó có 7 loài lần đầu tiên ghi nhận cho khu hệ mối Việt Nam; 18 loài cho KVNC. Cung cấp các dẫn liệu về đặc điểm phân bố của mối theo dải độ cao và theo sinh cảnh cho KVNC; - Xác định được 5 loài mối gây hại cho công trình kiến trúc ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, trong đó loài mối gây hại nghiêm trọng nhất là Coptotermes gestroi; - Lần đầu tiên ở Việt Nam xác định sự phân công lao động theo tuổi ở đẳng cấp mối thợ kiếm ăn của mối Coptotermes gestroi, chúng gồm 3 nhóm tuổi với số lượng tương ứng là 13, 14 và 15 đốt râu.
Trong đó có tới hơn 80% 3 mối thợ kiếm ăn tiếp tục trải qua quá trình lột xác. Đây là đóng góp quan trọng cho việc nghiên cứu sử dụng bả ức chế quá trình tổng hợp kitin trong phòng trừ mối Coptotermes; - Nghiên cứu chế tạo và áp dụng thành công loại bả ức chế quá trình tổng hợp kitin Mobahex-C16 trong phòng trừ mối Coptotermes gestroi. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU MỐI TRÊN THẾ GIỚI 1.
Tình hình nghiên cứu về thành phần loài và phân bố của mối Nghiên cứu mối bắt đầu từ thế kỉ thứ XVII. Nhà Tự nhiên học Carl Linnaeus (1707-1778) đã sắp xếp mối vào lớp phụ không cánh (Aptera) thuộc giống Termes trong tác phẩm Hệ Thống Tự Nhiên (Systema Nature) xuất bản lần thứ 10 vào năm 1758 [113]. Đến năm 1781, Fabricius thấy mối giống kiến và đã xếp mối vào nhóm Latrenmitina thuộc bộ Neuroptera. Đến năm 1802, do chưa tìm được cá thể mối cánh nào, nên Latreille đã xếp mối vào côn trùng không cánh, có hàm nghiền và đặt tên là Termitina.
Mãi tới năm 1895, Comstock và nhà khoa học cùng tên đã định danh cho mối ở bậc phân loại bộ (order) với tên gọi Isoptera (cánh đều, cánh bằng). Tên gọi này được sử dụng cho đến ngày nay [81]. Công trình phân loại về mối nổi tiếng nhất trong thời kỳ đầu là của Hagen (1855-1860). Tác giả đã ghi nhận 98 loài mối và mô tả toàn bộ các loài này, trong đó bao gồm cả 14 loài hóa thạch và 31 loài mới.
Đây có thể coi là công trình đầu tiên có tính hệ thống về mối trên thế giới. Tuy nhiên, ông vẫn đặt mối trong một họ là Termitidea và họ này vẫn thuộc trong Bộ cánh gân (Neuroptera) [92]. Theo Roonwal và cộng sự (1989), giai đoạn từ 1859 - 1949 là thời kỳ phát triển mạnh các nghiên cứu về mối, thời kỳ này ghi nhận nhiều giống và loài mối mới. Tiêu biểu như Haviland (1898), nghiên cứu hệ thống học và sinh học của mối ở Indonesia và Malaysia; Escherich (1909, 1911) và Bugnion và cộng sự, (1910, 1911, 1912, 1913, 1914, 1915) đã cung cấp dữ liệu về mối tại khu vực Ceylon; Holmgren (1912, 1913) đã nghiên cứu về phân loại và một phần sinh học mối khu hệ Ấn Độ; Oshima (1919) đã nghiên cứu khu hệ mối Đài Loan và Philippines; John (1913, 1925) đã tiến hành nghiên cứu phân loại và sinh học mối ở Ceylon, Malaysia và Indonesia [127].
Trong đó, đáng chú ý 5 là nghiên cứu của Snyder (1949). Tác giả đã xuất bản cuốn “Danh mục về mối trên thế giới” với 1.710 loài sống và 63 loài hóa thạch) thuộc 153 giống (141 giống sống và 12 giống hóa thạch), 5 họ (Mastotermitidae, Kalotermitidae, Hodotermitidae, Rhinotermitidae và Termitidae) [134]. Ở nửa sau thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, các nghiên cứu hệ thống học và sự phân bố của mối đã được mở rộng ra ở nhiều nước, đặc biệt là khu vực Đông Phương. Các nghiên cứu về hệ thống phân loại mối được tập trung ở Ấn Độ.
Thakur và Sen-Sarma (1979) nghiên cứu về mối ở Tripura và Kumaon, Ấn Độ [153]. Tác giả đã xác định 76 loài thuộc 27 giống, 5 họ và đã ghi nhận 10 loài mới cho khoa học. Năm 2008, Mukherjee đã tiến hành nghiên cứu mối ở Himalaya và đã xác định được 107 loài thuộc 29 giống, 6 họ. Tác giả cũng cho rằng nhiều loài mối mới được tìm thấy ở Ấn Độ [116].
Tại các nước Đông Nam Á, Ahmad (1958) đã nghiên cứu và phát hiện 397 loài, thuộc 48 giống, 4 họ trong khu hệ mối Phương Đông [58]. Riêng khu hệ mối ở Thái Lan, Ahmad (1965) đã phát hiện có 74 loài, 28 giống và 3 họ [59]. Sornnuwat và cộng sự (2004) đã tổng hợp các nghiên cứu về thành phần loài mối ở Thái Lan và công bố có 199 loài mối [138]. Tại Trung Quốc, Huang và cộng sự (2000) đã công bố thành phần loài mối ở phía Bắc Trung Quốc gồm có 476 loài, 44 giống và 4 họ, tất cả các loài 6 đều được mô tả và có khóa định loại tới loài [100].
Huang và cộng sự (2001) đã tiến hành nghiên cứu mối ở phía Nam Trung Quốc và đã phát hiện thêm trên 400 loài, nâng số lượng loài mối ở Trung Quốc từ vài chục loài lên tới trên 522 loài, trong đó 488 loài đã được định loài và công bố. Cho đến nay, Krishna và cộng sự (2013) đã tổng hợp được tổng cộng 3.105 loài, thuộc 330 giống, 12 họ, trong đó bao gồm cả những loài hóa thạch [105]. Đến thời điểm hiện nay, hình thái ngoài vẫn là đặc điểm chủ yếu được sử dụng trong định loại mối. Mối thợ cũng được sử dụng trong phân loại như thấy trong công trình nghiên cứu của Ahmad (1950) [57].
Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng đặc điểm của hàm mối thợ và mối cánh là các đặc điểm chẩn loại, rõ ràng nhất ở mức độ giống.