đặt vấn đề nghiên cứu trực tiếp thái độ của cha mẹ đối với con có chứng tự kỷ, song ở khía cạnh khác nhau, nhiều tác giả đã xem xét vấn đề này một cách nghiêm túc. Nổi lên có 3 xu hƣớng nghiên cứu: Xu hướng thứ nhất: Phủ nhận việc có liên quan giữa thái độ, cách ứng xử của cha mẹ đối với con có chứng tự kỷ. Họ thƣờng có xu hƣớng đi tìm nguyên nhân sinh lý từ thực thể trẻ tự kỷ. Xu hướng thứ hai: Thừa nhận rằng chính cách ứng xử hàng ngày của cha mẹ có ảnh hƣởng lớn đến việc trẻ tự kỷ phát triển khả năng của mình nhƣ thế nào.
Cha mẹ càng có kinh nghiệm và quan tâm nhiều tới lĩnh vực phát triển nào của trẻ thì trẻ càng học hỏi, đạt đƣợc kết quả cao trong lĩnh vực ấy. Xu hướng thứ ba: Xác định rõ các giai đoạn và sự khác biệt giữa các bậc cha mẹ ở nhiều khu vực trên thế giới trong việc c hấp nhận con và tình trạng bệnh của con. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Từ các xu hƣớng nghiên cứu trên đây là cơ sở khoa học về lịch sử vấn đề nghiên cứu cho đề tài này đƣợc triển khai nhằm bổ sung và làm rõ hơn nữa thái độ của cha mẹ đối với con có chứng tự kỷ ở địa bàn Hà Nội.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Khái niệm thái độ Thái độ là thuật ngữ liên ngành, là đối tƣợng nghiên cứu của các nhà xã hội học, tâm lý học, các nhà nghiên cứu chính sách, nhân chủng học. Định nghĩa thái độ Thomas và Znaniecki (1918) cho rằng: Thái độ là trạng thái tinh thần của cá nhân đối với một giá trị.
Theo Gordon Allport (1991), thái độ là sự sẵn sàng trong phản ứng, là trạng thái tinh thần hay thần kinh sẵn sàng để đáp ứng. Nó đƣợc cấu tạo thông qua kinh nghiệm cá nhân, ảnh hƣởng trực tiếp h ay gián tiếp đến phản ứng của cá nhân đối với tất cả các đối tƣợng hay hoàn cảnh mà nó liên quan [18].Allport đã tính tới yếu tố bên trong, tuy nhiên ông nói “kinh nghiệm” chỉ có trong bản thân mà chƣa tính đến yếu tố bên ngoài, đến quan hệ xã hội, ông cũng không để cập tới vai trò của ý thức trong thái độ. Các tác giả tâm lý học mác xít đề cập đến khái niệm thái độ: Miaxisew: Thái độ là hạt nhân tâm lý của nhân cách, hình thành một cách có ý thức theo cơ chế chuyển dịch thông qua hoạt động và giao tiếp mà con ngƣời tham gia vào, là một hệ thống trọn vẹn mang tính chủ quan đối với hiện thực khách quan. Nó quyết định sự phản ứng trong hành vi đối với những tác động đến từ bên ngoài.
Tất cả các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 tổ chức cấu thành tâm lý con ngƣời từ đơn giản đến p hức tạp đều có liên quan đến con ngƣời và những chức năng tâm lý khác đều có thể xem nhƣ một dạng của thái độ [5]. Platonov: Thái độ là một cấu thành tích cực của ý thức cá nhân, là mối quan hệ ngƣợc chủ thể- thế giới. Nghĩa là con ngƣời và thế giới bên ngoài tác động qua lại lẫn nhau và nó đƣợc thể hiện trong hành vi của cá nhân [5]. Theo các tác giả tâm lý học mác xít, chính mối quan hệ xã hội mà cá nhân tham gia vào bằng hoạt động và giao lƣu của mình đã quyết định thái độ của cá nhân đó trƣớc những tác động của hiện thực khách quan.
Nguyễn Nhƣ Ý (1998): Thái độ là mặt biểu hiện bề ngoài của ý thức, tình cảm đối với hay việc gì thông qua nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động. Hơn nữa, thái độ còn là nhận thức, là cách nhìn nhận, đánh giá và xu hƣớng hành động trƣớc sự việc hay vấn đề gì đó [11]. Nhƣ vậy, thái độ không chỉ là sự biểu hiện tình cảm ra bên ngoài mà còn bao gồm nhận thức và hành động Từ điển Bách khoa toàn thƣ: Thái độ bên trong đƣợc biểu lộ qua hành động, hành vi, cử chỉ ứng xử đối với ngƣời khác, đối với các sự kiện, quan điểm với bản thân. Là quan điểm trung gian giữa giai đoạn tiềm ẩn với giai đoạn thực hiện đầy đủ một ý nghĩa, ý định nào trong thực tế.
Thái độ biểu thị nhân cách [30]. Từ điển Tâm lý học (2001): Thái độ trƣớc một số đối tƣợng nhất định nhƣ hàng hoá nào đó hay một ý tƣởng nào đó (chính trị, tôn giáo, triết lý…) nhiều ngƣời thƣờng có những phản ứng tức thì, tiếp nhận rõ ràng hay khó khăn, đồng tình hay chống đối, nhƣ đã có sẵn những cơ cấu tâm lý tạo ra định hƣớng cho việc ứng phó [11]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Cho đến nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về thái độ, việc đƣa ra một định nghĩa về thái độ là rất khó vì mỗi tác giả, mỗi trƣờng phái dựa trên những cách hiểu của mình để đƣa ra cách tiếp cận khác nhau. Từ những quan điểm trên, chúng tôi xin rút ra khái niệm thái độ nhƣ sau: Thái độ là một cấu tạo tâm lý có ý thức và có bản chất xã hội, là sự đánh giá của cá nhân, có tính chất lâu dài và ổn định thể hiện ở sự sẵn sàng phản ứng theo khuynh hướng nhất định đối với một đối tượng nào đó, được thể hiện thông qua nhận thức, xúc cảm và hành vi của họ trong tình huống cụ thể.
Bản chất của Thái độ: Bản chất của thái độ đƣợc thể hiện ở 3 mặt, tạo nên cấu trúc của nó, trong đó: - Mặt nhận thức: gồm những quan điểm, sự đánh giá, hiểu biết của cá nhân về đối tƣợng nào đó. - Mặt tình cảm: là những cảm nhận của ngƣời nào đó đối với đối tƣợng nhất định. - Mặt hành vi: bao gồm xu hƣớng hành động của ngƣời nào đó đối với đối tƣợng của thái độ.2 Khái niệm tự kỷ Định nghĩa tự kỷ E. Leo Kanner: Tự kỷ là trạng thái thu mình cao độ của một số trẻ em từ lúc mới sinh ra, triệu chứng đặc trƣng của bệnh là sự cô đơn, đó LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 là sự rối loạn từ cội rễ, những đứa trẻ này không có khả năng thiết lập các mối quan hệ bình thƣờng với ngƣời khác và không ứng xử một cách bình thƣờng với các tình huống từ lúc chúng bắt đầu cuộc sống [17].
Andre Guillain và Réné Psy: “Tự kỷ là rối loạn của quá trình phát triển, các dấu hiệu chẩn đoán của nó thể hiện sự bất thƣờng trong các lĩnh vực giao tiếp có chủ định, trong hoạt động biểu tƣợng và trong lĩnh vực vận động” [15, 346]. Theo DSM- IV: “Tự kỷ là biểu hiện của sự phát triển bất thường hay khiếm khuyết rõ rệt trong ba lĩnh vực: tương tác xã hội - giao tiếp- và thu hẹp phạm vi hoạt động và các thích thú” [2, 66]. Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau về tự kỷ, nhƣng với đề tài này, để tiện cho việc đánh giá, tìm hiểu thái độ của cha mẹ đối với con mang chứng tự kỷ, chúng tôi đã sử dụng định nghĩa tự kỷ của DSM - IV là định nghĩa chính về trẻ tự kỷ trong luận văn. Chẩn đoán phân biệt • Với hội chứng Aspenger: ngƣời bệnh tỏ ra vụng về, sợ leo trèo, khi bƣớc đi vung vẩy hai tay và chúi đầu về phía trƣớc, tƣ duy thực tế, tính cách kỳ quặc, trí nhớ tốt, nhớ lâu, có thể có ám ảnh theo chủ đề.
Song họ vẫn có khả năng lao động và sống độc lập. • Với hội chứng Rett: chỉ gặp ở trẻ nữ và tuổi khởi phát thƣờng từ 7-24 tháng. Với các biểu hiện lâm sàng đặc trƣng nhƣ mất các hoạt động khéo léo, mất một phần hoặc không phát triển ngôn ngữ, thƣờng có các động tác đặc biệt là uốn vẹo ngƣời, vặn tay, rối nhiễu chức năng vận động dễ dẫn đến co cứng. Hội chứng này còn kèm theo sự chậm phát triển trí tuệ.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 • Với hội chứng Landau- Klefner: đƣợc đặc trƣng bởi những biểu hiện thu mình, rập khuôn, hạn chế ngôn ngữ. Trẻ mắc hội c hứng này đã có thời kỳ phát triển bình thƣờng khi còn trƣớc tuổi đi học, nhƣng sau 6, 7 tuổi khả năng ngôn ngữ giảm dần về vốn từ, cách diễn đạt… và đƣợc xem là trẻ tự kỷ “thoái lùi”. • Với hội chứng gãy nhiễm sắc thể X: là môt dạng chậm phát triển trí tuệ, trong đó nhiễm sắc thể X có nhánh bị ngắn. Bệnh nhân có biểu hiện chậm phát triển ngôn ngữ, tăng động, thiếu tiếp xúc mắt - mắt, hay vỗ tay.
Khi trƣởng thành có thể có những nét đặc trƣng nổi bật nhƣ mặt dài, tai dài… • Với tâm thần phân liệt: thƣờng xuất hiện ở tuổi lớn hơn, rất ít trẻ em đƣợc chẩn đoán là tâm thần phân liệt trƣớc 13 tuổi. và đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh tâm thần phân liệt. • Với chậm phát triển tâm thần: họ có quan hệ với ngƣời khác, có sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp và các chức năng không tách biệt nhau. • Với loạn thần phân rã (bao hàm hội chứng Heller, loạn thần cộng sinh, mất trí trẻ em).
Đặc điểm của rối loạn này là: + Có một thời kỳ phát triển bình thƣờng từ 2- 4 năm + Tan rã hành vi + Mất các kỹ năng nhận thức nặng và nhanh + Mất thích thú các vật + Biểu hiện thoái lùi nặng (đái dầm, ỉa đùn) Phân loại tự kỷ * Phân loại quốc tế ICD - 10 và DSM - IV chia tự kỷ thành 2 loại: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Tự kỷ điển hình: Tự kỷ bẩm sinh (phát triển ngay khi sinh hoặc rất sớm sau sinh) các triệu chứng xuất hiện ngay sau sinh đến trƣớc 3 tuổi. Tự kỷ không điển hình: Tiền sử phát triển bình thƣờng tới 12 - 30 tháng tuổi, sau đó ngừng phát triển đột ngột hoặc thoái triển (mất các kỹ năng đã có) và các triệu chứng khác của tự kỷ xuất hiện [6, 13]. Trong giáo dục, ngƣời ta sử dụng cách phân loại tự kỷ làm 3 nhóm: nhóm không phản ứng; nhóm thụ động; và nhóm chủ động nhƣng kỳ quặc. Ở nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng cách phân loại theo ICD -10 và DSM - IV cho phù hợp với nội dung đề tài.3 Khái niêm trẻ em, trẻ tự kỷ Trong tâm lý học, khái niệm trẻ em đƣợc dùng để chỉ giai đoạn đầu của sự phát triển tâm lý- nhân cách con ngƣời.