phần Mở đầu, phần Kết luận, Tài liệu tham khảo và phần Phụ lục phiên âm dịch nghĩa văn bản Phi điểu nguyên âm, luận văn được chia ra làm 2 chương: Chƣơng 1: Nhữ Bá Sĩ và tác phẩm Phi điểu nguyên âm Chƣơng 2: Giá trị văn chƣơng Phi điểu nguyên âm 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG I: NHỮ BÁ SĨ VÀ TÁC PHẨM PHI ĐIỂU NGUYÊN ÂM 1. Thân thế và sự nghiệp 1. Tiểu sử tác giả Nhữ Bá Sĩ 汝伯仕(1788 – 1867), tự Nguyên Lập (元立) hiệu Đạm Trai 澹齋. Tổ tiên vốn người đất Hoạch Trạch (Hải Dương) sau dời vào làng Cát, xã Cát Xuyên, tổng Chương Sơn nay là huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Tuy con đường thi cử, quan chức của Nhữ Bá Sĩ lận đận, nhưng ông đã lập nghiệp bằng cách sử dụng kiến thức uyên bác của mình để dạy học và sáng tác, đào tạo cho xã hội một số người tài và đóng góp vào kho tàng văn hóa Việt Nam những tác phẩm giá trị. Các bài văn, thơ của Nhữ Bá Sĩ đều toát lên lòng yêu quê hương, đất nước, ý thức tự hào về truyền thống dân tộc và cả nỗi niềm trăn trở của tác giả trước những biến cố thời cuộc. Là người thông minh dĩnh ngộ, năm 11 tuổi, ông học với Hương cống Đặng Văn Chính trong huyện. 14 tuổi, học trường tỉnh với ông Đốc học Phan Bảo Định, được xếp loại giỏi.
Năm 15 tuổi, ông vừa học vừa làm thầy giáo tại nhà, dạy dỗ hai em ruột là Nhữ Đình An và Nhữ Trọng Thực, sau này đều thi đỗ cử nhân. Tuy thông minh, hiếu học song con đường hoạn đồ của ông lại lênh đênh. Trong khoa thi Hương năm Kỷ Mão, triều Gia Long (1819), ông và người em thứ hai Nhữ Đình An cùng dự thi, người em thì đỗ cử nhân, còn ông chỉ đỗ sinh đồ (tú tài). Sang khoa thi năm Minh Mạng thứ 2 (1821), ông mới đỗ cử nhân, song thi Hội chỉ được tam tường (trên cử nhân, dưới tiến sĩ, ngang phó bảng sau này).
Cuộc đời quan trường của Nhữ Bá Sĩ cũng đầy gập ghềnh, chông gai. Sau khi thi đỗ, ông được bổ chức Tri huyện, rồi thăng Hình bộ viên ngoại lang lang trung. Năm 1830, bị vu cáo trong chuyến đi thanh tra thuế đường ở Quảng Nam, ông bị cách chức, lãnh án “giảo giam hậu” (thắt cổ nhưng giam lại xét sau). Sau ba năm sống trong lao ngục, ông được tha, nhưng phải đi hiệu lực trong phái đoàn của Lý Văn Phức sang Quảng Đông (Trung Quốc).
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sau thời gian đi sứ trở về Nhữ Bá Sĩ được bổ chức giáo thọ (phụ trách dạy một huyện), rồi thăng đốc học (phụ trách dạy một tỉnh). Ngán ngẩm con đường làm quan, ít lâu sau vào năm 1839 ông cáo bệnh xin nghỉ, rồi mở trường dạy học tại quê nhà lấy tên là Nghi Am học hiệu. Nhiều người đã thành danh từ trường này như: Phạm Thanh, Phạm Tứ, Phạm Hòa, Mai Anh Tuấn. Biết Nhữ Bá Sĩ là người có tài đức, triều đình nhà Nguyễn muốn trọng dụng lại, nên đã ba lần mời ông làm quan nhưng ông vẫn từ chối.
Mãi đến năm 1854, Nhữ Bá Sĩ mới ra nhận chức Hàn Lâm trước tác, rồi Đốc học Thanh Hóa. Ở đây, ông phụng chỉ làm sách Thanh Hóa tỉnh chí. Khi sách làm xong, ông lại xin về hưu, tiếp tục việc dạy học. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, Nhữ Bá Sĩ cùng một số quan ở Thanh Hóa dâng sớ tâu vua phải chống giặc Tây dương, không thể chủ hòa.
Năm Giáp Tý (1864) ông lại dâng lên vua Tự Đức tờ biểu tường trình về sách lược đánh giặc Pháp (Tĩnh Dương tam sách) dài đến mấy vạn chữ! Tự Đức đã phê vào tờ tấu: "Người này tuổi đã cao rồi, đáng tiếc thay!". Năm 1866, mặc dù tuổi cao sức yếu nhưng Nhữ Bá Sĩ còn đi võng vào Nghệ An, mưu việc chống Pháp với các sĩ phu trong ấy, việc chưa thành thì ông mất, thọ 80 tuổi. Cuộc đời Nhữ Bá Sĩ gắn liền với sự nghiệp dạy học, suốt 20 năm cần mẫn đào luyện nhân tài. Sự nghiệp truyền tải đạo lý Nho gia, truyền trao tri thức của ông với thời mình rất to lớn.
Ông luôn là tấm gương học tập cho học trò noi theo, là một người thầy tài năng, đề cao lòng nhân và thương yêu học trò. Chuyện kể, bấy giờ ở huyện Hậu Lộc, cạnh nơi ông Nhữ dạy học, có một thiếu niên là Phạm Thanh (1820-1863), nhà nghèo, bố là Phạm Phổ (đỗ cử nhân, làm Án sát Tuyên Quang, bị bọn phỉ nhà Thanh bắt, không chịu hàng và đã tuẫn tiết). Ông Nhữ động lòng trắc ẩn, bèn đưa người thiếu niên họ Phạm về nhà dạy dỗ. Phạm Thanh học rất giỏi, nên được thầy yêu quý, đem cô con gái là Nhữ Thị Năng gả cho làm vợ.
Đến khoa thi Hội năm Tân Hợi, triều Tự Đức thứ 4 (1851), Phạm Thanh dự thi và đã đỗ Bảng nhãn. Vì triều Nguyễn không lấy Trạng nguyên, nên Phạm Thanh là người đỗ cao nhất nước. Hiện bức đại tự ở đền thờ quê ông còn thấy ghi bốn chữ: ''Quốc triều Á trạng''. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhữ Bá Sĩ xứng đáng được xếp vào danh sách nhà giáo danh tiếng của nước ta.
Trong hơn 20 năm không những trực tiếp dạy dỗ học trò có đức, có tài mà ông còn là một nhà nghiên cứu giáo dục rất hiếm thấy thời xưa. Trong tác phẩm Nghi Am sơ định học thức của mình, ông đã đề cập đến nhiều lĩnh vực thuộc về lý luận giáo dục như: nội dung, hình thức giáo dục, phương pháp dạy – học, quan hệ thầy trò. về yêu cầu giáo dục ông nhấn mạnh hai chữ “giới – khí”, nghĩa là không được dối trá, học hành phải chân thật, nghiêm túc. Ông khuyên người dạy và người học cần phát huy tích cực và phải coi trọng việc tích lũy kiến thức: “không thích thú cũng cứ đọc, không nghi ngờ cũng cứ hỏi”, coi trọng “ngôn hành thống nhất”, giữ mẫu mực trong nói năng hành động.
Khi làm việc thì ông luôn chuyên cần chăm chỉ, nền nếp, ăn ngủ đúng giờ, rất điều độ, đọc sách thì tập trung chú ý cao, đến mức ai làm gì xung quanh cũng không hay. Ông khuyên học trò phải chín chắn cân nhắc kỹ lưỡng trước khi nói năng: “Thiên tai đô tòng khẩu xuất, vạn bệnh đô tòng khẩu nhập” - nghìn tai vạ đều từ miệng mà ra, muôn bệnh khổ đều do miệng mà vào. Đương thời trường học Nghi am của ông rất nổi tiếng, học trò và nhân dân gọi ông là “cụ đốc Nhữ” để tỏ lòng kính trọng đối với người thầy tài năng đức độ. Về tài năng và sự nghiệp trước tác thì Nhữ Bá Sĩ rất nổi tiếng, ông không ngừng tự học, đọc sách, nên hiểu biết rộng, vốn kiến thức dồi dào.
Lê Thận Ngôn trong bài Đạm trai tiên sinh hành trạng đã mô tả: : “… khi đọc sách, tiên sinh để tâm nghĩ ngợi rất chăm chú, thần trí như bị hút cả vào chữ nghĩa, mặc cho xung quanh kẻ khác làm gì cũng không biết. Lúc nào bên trái bên phải cũng có sách vở chất đầy bàn, xếp đầy giường. Trừ khi bệnh nặng còn thì không bao giờ tay rời quyển sách. Đến khi tuổi cao sức yếu mà vẫn một ngọn đèn, một cuốn sách, cứ thế thâu đêm suốt sáng không biết mệt nhọc”.
Nhữ Bá Sĩ nghiên cứu khá nhiều lĩnh vực từ lịch sử, văn học đến thiên văn, địa lí, luật pháp, binh thư, võ nghệ, rồi cả lịch số, bói toán. và đã để lại một khối lượng trước tác đáng kể. Theo văn bia do học trò của ông là Hoàng Trọng Vỵ (đỗ cử nhân khoa Giáp Tý, triều Tự Đức (1864), từng giữ chức Thái tể, Thái phó, Hiệp biện đại học sĩ, Thượng thư bộ lễ soạn), thì ông Nhữ có đến 17 tác phẩm và nhiều bài đề tựa, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phê bình, hiệu đính khác. Một số đến nay đã bị thất lạc hiện chỉ còn trên mười tác phẩm lưu trữ tại thư viện Hán Nôm Hà Nội và do gia đình cất giữ.
Trong số đó, có hai tác phẩm văn học đáng chú ý là Phi điểu nguyên âm và Việt sử tam bách vịnh, gồm 309 bài vịnh sử nước ta từ Hùng Vương đến hết thời Hậu Trần. Thơ văn của ông ý tứ hàm súc, từ ngữ trau chuốt, vận dụng nhiều tư liệu điển tích xưa nên nếu không có kiến thức rộng thì rất khó đọc và dịch. Chuyện kể có một vị cử nhân đến nhà ông mượn sách, nhưng khi xem qua thì trả lại vì thấy khó hiểu. Đó cũng là một trong những lý do mà cho đến nay chúng ta chưa biết nhiều về trước tác của ông dù ông được xưng tụng là Thi văn Cát Xuyên và hậu thế đánh giá là “nhà văn có tầm cỡ ở thế kỷ XIX”.
Nhà văn Trung Quốc Mục Liên Tiên, tức Mục Cẩn đánh giá tài văn của Nhữ Bá Sĩ: “'Mạnh mẽ, hùng tráng, tình ý mới lạ, lời uyển chuyển, biến hóa theo chủ định của tác giả, ý đối, từ dùng sâu sắc, đẹp, âm điệu hài hòa như trúc mùa thu, màu sắc tươi tắn như lan mùa xuân''. Tuy con đường thi cử, quan chức của Đạm Trai Nhữ Bá Sĩ lận đận, nhưng ông đã lập nghiệp bằng cách sử dụng kiến thức uyên bác của mình để dạy học và sáng tác, đào tạo cho xã hội một số người tài và đóng góp vào kho tàng văn hóa Việt Nam những tác phẩm giá trị. Đúng như đoạn viết trên tấm bia dựng ở nhà thờ họ Nhữ quê ông: ''.Thầy Đạm Trai nếu tài học được trọng dụng sớm, thì sao mà có được mười mấy bộ sách để con cháu giữ làm của quý, nhiều người ngẫm đọc? Sao có được các vị họ Mai, họ Phạm kiệt xuất một thời giúp việc nước? Sao mà mãi đến nay ở xứ Thanh đất nhà vua, sĩ phu đông đảo hết lòng hâm mộ, tôn thầy làm khuôn mẫu đời đời. Xem thế biết thầy đâu phải không gặp thời.
Quan điểm thơ văn và sự nghiệp sáng tác Nhữ Bá Sĩ như đã nói, sở học rất rộng nhưng không vì thế mà kiến thức của ông chắp vá lẫn lộn. Ông rất nghiêm khắc đối với bản thân và việc học, và điều quan trọng nhất là kiến thức thu lượm được từ sách vở phải ứng dụng được vào thực tế, nếu không kiến thức chỉ là kiến thức khô héo, cứng nhắc. Giống như Khổng Tử từng nói: Đọc 300 bài Kinh Thi, sai đi sứ mà không ứng đối được thì đọc làm gì. Việc học theo ông phải thực hiện theo tinh thần sách Trung Dung đã 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dạy: 有弗學學之弗能弗措也.